Thứ Hai, 12 tháng 1, 2015

Món ngon từ dông cát Phan Thiết

0

Món ngon từ dông cát Phan Thiết


PNO - Ngoài thực đơn hải sản đa dạng, khi đến Phan Thiết, du khách còn có cơ hội thưởng thức những món ngon từ dông cát địa phương. Hương vị và cách chế biến độc đáo chính là lý do những món ăn từ dông ngày càng được nhiều người yêu thích tại xứ biển nắng gió này.


Thịt dông chắc ngọt, làm gỏi, nướng, xào sả ớt hay nấu lẩu đều ngon
Thịt dông chắc ngọt, làm gỏi, nướng, xào sả ớt hay nấu lẩu đều ngon 

Những đồi cát nóng bỏng ven biển Mũi Né từ lâu đã là môi trường sinh sống yêu thích của những chú dông cát thuộc họ bò sát, có kích thước lớn hơn thằn lằn. Từ một loài động vật hoang dã, dông được đem về nuôi để cung ứng cho thị trường như một nguyên liệu ngon, giàu dinh dưỡng.

Dông rộ nhất vào mùa mưa, và mặc dù chạy rất nhanh, chỉ cần thấy bóng người là bay biến nhưng chẳng vì thế mà làm khó được người bắt. Bắt dông có nhiều cách: đào, bẫy, chặn ngách, giăng lưới, dò, thổi... nhưng phổ biến nhất có lẽ là dò dông. Nương theo tập quán sinh sống trốn trong cát ngủ khi mặt trời chưa lặn để tránh rắn của dông, người ta thường dùng đầu gậy giả làm rắn chui hang để dông sợ phóng ra rồi dùng bẫy tre mà kẹp.

Đặc sản dông cát 


Thịt dông trắng như thịt gà, lại ngọt, bùi, mề, xương gần như sụn ăn sừn sựt nên dân địa phương ưa gọi với cái tên “gà đất”. Theo những người giàu kinh nghiệm thì vị thơm ngon này có được là nhờ tập quán sinh sống trong hang, ăn chồi non, uống nước sương đêm giữa mênh mông “biển cát”.

Từ xa xưa, người dân làm rẫy ở miền cát trắng đã nghĩ ra rất nhiều cách chế biến món ngon từ dông. Điểm sơ vài món quen như: chả dông, dông bằm xúc bánh tráng, cháo thịt dông, dông xào lăng, xào sả ớt, nấu dưa hồng, bánh xèo thịt dông… thôi cũng đã thấy hấp dẫn. Trong số đó, được dân nhậu yêu thích nhất có lẽ là món dông nướng. Dông làm món nướng ngon nhất phải là dông đạt cỡ trưởng thành.

Trong các món từ dông, được yêu thích nhất là dông nướng
Trong các món từ dông, được yêu thích nhất là dông nướng

Sau khi lột da dông được làm sạch, ướp hành băm nhuyễn, hạt nêm, tiêu và nước nắm ngon khoảng 30 phút cho thấm, rồi đem nướng trên lửa than hồng, vừa nướng vừa lật trở đều đến khi chín vàng. Hương thơm của dông nướng tăng dần đều theo độ chín của nó, thế nên dân nhậu thường thích nướng cho hơi sém, giòn một tẹo, khi ăn nhai cả xương. Dông vừa nướng xong, thơm nức được mang tới tận bàn ăn cùng bánh tráng nướng, rau sống, bún hoặc tráng mỏng với mắm me. Khi ăn nhấp chút bia lạnh thì tuyệt.

Gỏi dông cũng là một món được nhiều người ưa thích. Thịt dông sau khi làm sạch ruột, lột da, rửa sạch, luộc, xé lấy thịt, ướp cùng muối, đường, bột ngọt, tỏi cho ngấm sẽ được trộn với hành tây, cà rốt, hành khô, rau răm… ăn kèm bánh tráng nướng giòn rụm đậm đà. Ngoài gỏi, thịt dông đem nấu cháo cũng ngon phải biết. Chỉ cần bằm lấy ít dông, xào qua với gia vị, bắc nồi cháo lên đợi gạo tơi, sôi ùng ục thì trút thịt dông vào nêm thêm muối mắm, bột ngọt, hành, tiêu... là có ngay món dằn bụng nóng hổi. Cũng theo cách ướp gia vị ấy, người ta đem thịt dông xào trên lửa lớn, thêm ít đậu phộng, sả, ớt bằm, nước trộn gỏi vào làm thành món dông xào xúc bánh tráng thơm béo.

Thịt dông nấu lẩu ngon không kém hải sản
Thịt dông nấu lẩu ngon không kém hải sản

Dông nấu lẩu cũng ngon chẳng kém gì hải sản. Dông làm món lẩu được đem trụng qua nước sôi, tùy thích để nguyên con hay lột lớp da ngoài, làm sạch ruột, cắt khúc vừa ăn. Nước lẩu cũng được nấu đơn giản bằng cách phi thơm hỗn hợp hành, tỏi, ớt băm, thêm nước dùng vào nấu rồi nêm nếm đường, nước mắm, hạt nêm, muối, bột ngọt, nước cốt me cho vừa ăn. Khi ăn chỉ việc thả dông vào nấu 5 phút, thêm lá me non, rau om, ngò gai, rau quế vào trộn đều, dùng kèm bún và nước mắm ớt.

Không chỉ làm nên những món ngon, thịt dông còn được biết đến như một “phương thuốc” ăn để khỏe có tác dụng bồi bổ sức khỏe cho người ốm, phụ nữ mới sinh con, đồng thời tăng cường sinh lực của các quý ông.

Ăn ở đâu?


Dông là món nhâm nhi khoái khẩu của người dân địa phương, vì vậy bạn có thể dễ dàng tìm thấy những món ăn này ở khắp các nhà hàng, quán nhậu tại Phan Thiết, Mũi Né. Dưới đây là một vài địa chỉ cho bạn tham khảo:

Có thể thưởng thức món dông tại các nhà hàng và quán địa phương ở Phan Thiết
Có thể thưởng thức món dông tại các nhà hàng và quán địa phương ở Phan Thiết 

Nếu ở Mũi Né bạn có thể thưởng thức tại nhà hàng Việt Nam Home (125AB Nguyễn Đình Chiểu, Mũi Né), các quán nhậu bờ kè, nhà hàng nhỏ dọc đường Nguyễn Đình Chiểu…

Nếu ở trong trung tâm thành phố Phan Thiết bạn có thể ghé đến quán Xuân Vàng, quán 49 trên đường Phạm Văn Đồng (khu Mũi Tàu, dưới chân cầu Cà Ty), nhà hàng Sóng biển (biển Đồi Dương)…

Nếu có ý định thăm thú, khám phá tập quán sinh sống, cách thức chăm sóc dông… bạn có thể tìm đến trang trại ông Bảy Đức (Thôn Tiến Hiệp, xã Tiến Lợi, Phan Thiết, Bình Thuận).


Bài: HUY CHƯƠNG. Ảnh: NAM KHA
Xem chi tiết »

Chủ Nhật, 11 tháng 1, 2015

Nông dân khấm khá nhờ rau hữu cơ

0

Nông dân khấm khá nhờ rau hữu cơ


Phòng Kinh tế TP.Hội An (Quảng Nam) vừa triển khai thành công mô hình “Vườn rau hữu cơ sinh thái”.

Mô hình này lần đầu tiên được thực hiện với diện tích hơn 6.300m2, tại cánh đồng Sau Doi, thôn Thanh Đông, xã Cẩm Thanh, TP.Hội An. Khác với phương thức trồng rau thông thường, đất trồng rau hữu cơ được quy hoạch thành vùng, xét nghiệm đảm bảo không ô nhiễm bởi kim loại nặng và các chất độc hại khác, có vùng đệm thích hợp để tránh xâm nhiễm từ bên ngoài. Đặc biệt, quy trình trồng rau hoàn toàn không sử dụng thuốc trừ sâu và phân hóa học.

Bà Đinh Thị Miễn vui vì ruộng rau hữu cơ ít sâu bệnh, mang lại lợi nhuận cao.
Bà Đinh Thị Miễn vui vì ruộng rau hữu cơ ít sâu bệnh, mang lại lợi nhuận cao.

Đầu năm 2014, trung tâm hành động vì sự phát triển đô thị Hội An đã tổ chức tập huấn về quy trình sản xuất rau hữu cơ sinh thái cho 27 nông dân, cán bộ xã Cẩm Thanh và các xã lân cận trong TP.Hội An. Từ đầu tháng 6.2014, bà con nông dân bắt đầu cung cấp ra thị trường gần 4 tấn sản phẩm rau các loại đạt chuẩn rau sạch hữu cơ. 
Bà Đinh Thị Miễn (60 tuổi) phấn khởi: “Chúng tôi đã nắm bắt được kỹ thuật trồng rau sạch. Việc thay đổi từ cách trồng truyền thống sang trồng rau sạch không khó, giá bán lại không bị o ép hay mất giá như lúc trước. Thu nhập ban đầu của nông dân được cải thiện rất rõ”. Theo bà Miễn, tham gia mô hình trồng rau sạch hữu cơ, nông dân tự giám sát nhau về quy trình thực hiện. Việc bón phân hữu cơ (phân chuồng + cây xanh) giúp cho nhiều bà con vận dụng được nguồn phân bón có sẵn. Rau sạch hữu cơ có giá cao hơn 30% so với các loại rau thông thường, theo đó sản phẩm rau các loại bán ra 11.000 đồng/kg, rau gia vị 30.000 đồng/kg.

Với 600m2 đất canh tác, ông Nguyễn Bé (SN 1951) trồng theo quy trình rau sạch hữu cơ các loại rau như xà lách, đậu bắp... mỗi ngày ông thu nhập 200.000 đồng (trong khi trồng rau theo kiểu truyền thống, mỗi ngày ông chỉ bán được vài chục ngàn đồng). “Việc trồng rau sạch hữu cơ tiết kiệm được chi phí, giá thành bán ra lại cao. Đây đúng là mô hình canh tác hợp lý mà người nông dân chúng tôi hướng đến” - ông Bé hồ hởi. Ông Bùi Minh Thuận - Phó Chủ tịch UBND xã Cẩm Thanh, cho hay: “Sắp đến, địa phương sẽ tiếp tục nhân rộng mô hình, tạo điều kiện cho nông dân gắn liền với việc phát triển du lịch”.




Nguồn: danviet.vn

Xem chi tiết »

Lẩu ngon

0

Lẩu ngon


PNCN - Sự khác biệt giữa các loại lẩu nằm ở hương vị của nước dùng và nước chấm. Để nồi lẩu có hương vị đặc trưng, gia vị nấu lẩu khá quan trọng, vì vậy, chọn mua đúng gia vị chế biến, thì món lẩu hoàn hảo hơn.


Lẩu nấm - thịt bò Hàn Quốc


Để nấu nước dùng cho món lẩu này, dùng tảo bẹ ngâm nở cắt thành miếng vuông, cá cơm khô Hàn Quốc, ít rượu gạo và hành lá, cho tất cả vào nồi nước nấu sôi rồi vặn lửa nhỏ khoảng 30 phút. Trộn đều ớt bột, tỏi băm, tiêu và nước tương Hàn Quốc (loại dùng nấu lẩu), hòa vào nước dùng, nêm lại vừa ăn, rồi lọc bỏ xác lấy nước. Nguyên liệu để nhúng lẩu cần chuẩn bị thịt bò loại mềm cắt lát mỏng và lớn bản, để nguyên hay ướp chút nước tương, bột nêm và dầu mè đều ngon. Nấm đủ loại: nấm mỡ, kim châm, linh chi, đông cô, bào ngư, hải sản… cắt gốc ngâm nước muối rửa sạch. Rau ăn kèm có cải thìa, cải thảo, rau tần ô, cà rốt, củ cải trắng. Nước chấm trộn đều nước tương, giấm và wasabi. Ăn kèm mì Hàn Quốc.


Lẩu Miso Nhật


Miso là tương làm từ đậu nành của người Nhật, thường dùng làm gia vị nêm nếm trong các món ăn. Nấu sôi nước, cho Dashi vào (Dashi là loại nước dùng chiết xuất từ thịt, cá, rau củ hay tảo biển). Khuấy tan bột Miso rồi cho vào nồi nước là đã có nước dùng mùi vị hấp dẫn. Thức ăn để nhúng lẩu gồm các loại thịt heo, thịt gà cắt lát mỏng hay mực cắt khoanh, cá cắt miếng dày. Rau ăn kèm có cải bó xôi (rau bina), rau tần ô, cải bắc thảo, cà rốt, củ sen, hành tây, boa rô, đậu hủ non, tất cả rửa sạch cắt miếng vừa ăn. Dùng nước chấm Ponzu pha với dầu mè để chấm thức ăn. Lẩu này ăn cùng với miến.


Lẩu cay Tứ xuyên


Tứ Xuyên (Trung Quốc) nổi tiếng với các món nóng và cay đến tê lưỡi, lẩu cay Tứ Xuyên cũng không ngoại lệ. Nước dùng hầm từ xương heo, cho thêm gừng cắt lát và rượu. Sau đó cho đường, bột quế, thì là, đinh hương, thảo quả, đại hồi, tiểu hồi, lá thơm vào hầm để tăng thêm hương vị nước dùng. Bắc chảo nóng, cho mỡ bò vào (có thể dùng dầu ăn thay thế), khi mỡ ra hết thành nước, cho gừng, ớt, tỏi băm vào phi thơm, cho hoa tiêu, ớt khô, tương ớt Tứ Xuyên vào xào cho dậy mùi rồi đổ vào nồi nước dùng, nêm lại với bột nêm và nước tương cho vừa ăn là đã có nồi nước dùng rất thơm và cay. Thức ăn cho lẩu này rất phong phú, ngoài thịt viên, cá viên, tôm viên, có thể dùng thêm thịt bò, mực. Rau củ cũng đa dạng không kém, từ củ sen, cà rốt, củ từ, khoai môn đến cải thảo, bó xôi (rau bina), cải thìa, cải xoong, còn có cả đậu hủ chiên. Ăn kèm ngoài mì, còn có bún gạo, hủ tíu tùy theo khẩu vị và ý thích. Nước chấm cho lẩu này cũng khá cầu kỳ, hòa giấm gạo, nước tương, dầu mè với gừng, tỏi băm nhuyễn và hành lá cắt nhỏ, sau đó trộn đều, khi ăn đập thêm một lòng đỏ trứng gà vào khuấy đều rồi chấm thức ăn.


Lẩu xí quách


Lẩu xí quách chế biến không cầu kỳ như các loại lẩu khác, thành phần chính của lẩu chỉ là nước xương hầm, kết hợp với vài loại củ quả nên hương vị thanh và... dễ ghiền. Chọn mua xương ống còn thịt, để nguyên ống không chặt nhỏ, rửa sạch, trụng sơ rồi cho vào nồi nước hầm. Đừng quên vớt bọt thường xuyên. Trong khi chờ nồi xương mềm, làm sạch các củ quả nấu kèm như củ năng, nấm tuyết, cà rốt, bắp Mỹ, lê, táo đỏ rồi cho vào nồi xương, bỏ thêm ít gừng cắt lát, hầm chung đến khi tất cả đều mềm thì nhấc xuống. Có thể nhúng thêm thịt, hải sản và rau đủ loại, ăn với mì trứng.



NHÃ VĂN
Xem chi tiết »

Thứ Bảy, 10 tháng 1, 2015

Lẩu rau rừng Cà Mau

0

Lẩu rau rừng Cà Mau


PNO - Một trong những món ngon nổi tiếng của Cà Mau là lẩu rau rừng, hay rau đồng. Tạo nên sự riêng biệt và độc đáo của món lẩu này chính là một loại rau rừng có tên là đọt choại.

Nhắc đến Cà Mau là nhắc đến vùng đất cuối cùng của Tổ quốc, một vùng từng là rừng thiêng nước độc xưa kia, nơi cuối cùng trong hành trình khám phá đất phương Nam của ông cha ta. Nhưng cũng nơi này, bàn tay ông cha ta đã gây dựng cơ đồ, tạo nên một vùng đồng bằng trù phú, giàu có, đời sống cư dân sung túc. Từ những sản vật địa phương, thiên nhiên phong phú, người Cà Mau từ thưở khai hoang đã biết tận dụng, chế biến thành những món ăn ngon dân dã mà độc đáo, không vùng đất nào trên đất nước ta có được.

Lẩu rau đồng Cà Mau
Lẩu rau đồng Cà Mau

Một trong những món ăn ngon nổi tiếng của Cà Mau là lẩu rau rừng, hay rau đồng. Lẩu cá, lẩu mắm, lẩu rau, canh cá.. các món canh, lẩu là những món ăn lâu đời và nổi tiếng trên khắp vùng đất phương Nam. Tuy có nét tương tự nhau nhưng mỗi vùng có đôi chút khác biệt, để tạo nên khẩu vị riêng cho món lẩu của vùng đất đó.

Người Cà Mau chân chất nhưng rất tinh tế trong ẩm thực. Món ăn của người dân xứ này dù sang hay nghèo, cũng phải tươi ngon, đậm đà. Cá mắm và rau rừng, rau đồng nhiều vô số kể, đó là quà tặng của thiên nhiên dành cho những người khai hoang mở cõi, nên chỉ cần một chút khéo léo trong chế biến, biết bao món ăn ngon sẽ làm người thưởng thức một lần thì không thể nào quên.

Món lẩu ngon nhất phải bắt đầu từ việc chọn cá, chọn mắm. Có rất nhiều loại cá tươi roi rói, mang vị ngon ngọt của vùng đất quê nhà, đã sẵn để làm lẩu. Cá rô, cá sặc rằn, cá lóc.. đều thơm mùi đồng ruộng sông ngòi, nấu lẩu là tuyệt nhất. Rồi những nguyên liệu cơ bản không thể thiếu như cà chua, bông súng, rau ngổ, đậu bắp đã sẵn sàng. Thêm vài loại rau rừng, rau đồng như rau má, đọt nhãn lồng, rau dừa..



Tuy nhiên, "linh hồn" làm nên sự riêng biệt và độc đáo của món lẩu Cà Mau chính là một loại rau rừng có tên là đọt choại. Với loại rau này, lẩu Cà Mau bỗng nhiên nổi tiếng hơn, độc đáo hơn, hương vị quyến rũ hơn. Đọt choại là một loại rau rừng mọc nhiều nơi ở Nam bộ, nhưng tập trung nhiều nhất ở Cà Mau. Thời chiến tranh, người Cà Mau sống trong rừng U Minh Thượng, ăn đọt choại trừ cơm, ngủ giữa lùm đọt choại, sống gắn bó mật thiết bên những lùm choại xanh rờn.



Ngày nay, rau choại vẫn "chọn" rừng U Minh Thượng để sinh sôi phát triển, đặc biệt là khi mùa khô đi qua và mùa mưa bắt đầu đem nước tưới mát mọi nơi. Choại là họ dây leo, sống trong bưng, trũng, mọc trên cả những vùng đất nhiễm phèn, bám đầy trên những thân cây tràm. Thân choại xanh um, đọt ra non mơn mởn, cuộn tròn nhìn rất đẹp mắt. Người Cà Mau muốn nấu nồi lẩu ngon, chỉ cần vào rừng, tự hái về một rổ để nấu, rau mới hái đã ngon lại càng ngon.



Đọt choại xanh mướt, hơi nhơn nhớt như đậu bắp hoặc rau đay, giàu dinh dưỡng, có tính hàn nên ăn rất mát. Nhúng rau vào nồi lẩu sôi sùng sục, vớt ra ăn ngay thì thật giòn thơm, có vị ngọt hậu, quả là một loại rau độc nhất vô nhị xứ này.

Đến Cà Mau, đừng quên thưởng thức món lẩu rau rừng này bạn nhé, ăn một lần bạn sẽ nhớ mãi.


Bài và ảnh: HUỲNH THU DUNG
Xem chi tiết »

Giếng cổ Gio An và đặc sản rau trên đá

0

Giếng cổ Gio An và đặc sản rau trên đá


Từ lâu, giếng cổ Gio An và rau xà lách xoong (rau liệt) đã trở thành đặc sản ở vùng đất xã Gio An, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị. Những mạch nước ngầm trong xanh, mát lành từ giếng cổ không những cung cấp nước sinh hoạt cho người dân nơi đây mà còn làm cho dân làng thoát nghèo nhờ đặc sản “rau trên đá”.

Dù hạn hán đến đâu thì nguồn nước giếng cổ Gio An không bao giờ cạn. Vì sao vậy? Đó là câu hỏi lớn mà các nhà khoa học chưa tìm ra lời giải.

Giếng cổ kỳ lạ


Theo giả thiết của các nhà khoa học, giếng cổ Gio An được hình thành vào khoảng từ thế kỷ IX - XI. Hệ thống giếng cổ Gio An có 14 giếng được đặt những cái tên rất chân quê gồm giếng Côi, giếng Dưới, giếng Búng, giếng Trạng, giếng Đào (thôn An Nha), giếng Gái 1, Gái 2, giếng Nậy (thôn An Hướng), giếng Tép, giếng Ông, giếng Bà, giếng Gai (thôn Hảo Sơn), giếng Máng (thôn Long Sơn), giếng Pheo (thôn Tân Văn). Trong mỗi hệ thống giếng cổ lại có nhiều giếng khác nhau, tên gọi của giếng gắn liền với chức năng của nó. Ví dụ như trong hệ thống giếng Trạng có giếng Múc, người dân dùng gàu, xô… múc nước nên gọi như vậy. Giếng Nam dành riêng cho nam giới, còn giếng Nữ dành riêng cho nữ giới. Hay giếng Gái, giếng Son, dành riêng cho những cô gái còn son, chưa chồng mới được tắm (vì vậy giếng này nằm ở vị trí kín đáo).

Rau liệt được tưới nhờ những dòng nước mát lành từ trong lòng đá.
Rau liệt được tưới nhờ những dòng nước mát lành từ trong lòng đá.
     
Khác với các loại giếng đào sâu vào lòng đất, giếng cổ Gio An nằm ở chân sườn các quả đồi đất đỏ bazan, được tạo thành nhờ kỹ thuật lắp ghép, kè đá để khai thác nước ngầm trong lòng đồi. Theo nguyên tắc bình thông nhau, các khối đá được xếp chồng và nâng mặt nước trong giếng cao hẳn lên, từ đó tạo nên độ chênh với lòng mương dẫn, nước sẽ theo các lỗ khoét trên thành giếng tràn ra ngoài.

Giếng cổ Gio An có hai dạng. Một dạng giếng có bể lắng và máng dẫn. Mỗi hệ thống giếng có 3 bậc. Bậc cao nhất là bãi đá rất rộng dùng để hứng nước, được xếp bằng đá cuội lớn, rất cứng. Từ bãi hứng này, nước chảy qua các máng được đẽo từ đá tổ ong và chảy xuống bậc thứ 2, gọi là giếng. Giếng cũng được xếp bằng đá cuội lớn, có độ sâu khoảng 1m. Từ giếng, nước sẽ chảy vào các mương dẫn tưới tiêu cho đồng ruộng bên dưới. Dạng thứ hai là những bể chứa được đào sâu và xếp bằng đá cuội lớn ngay cửa mạch nước trong sườn đồi trực tiếp chảy ra. Năm 2001, hệ thống giếng cổ Gio An đã được xếp hạng di tích lịch sử-văn hoá cấp quốc gia.

Thoát nghèo nhờ rau trên đá


Nhờ có hệ thống giếng cổ, nước chảy quanh năm, trong xanh mát lành mà người dân Gio An đã được hưởng phúc ấm từ loại rau liệt đặc sản, vốn cực kỳ khó trồng. Ông Đoàn Văn Lợi trồng nhiều rau liệt ở thôn Hảo Sơn (Gio An) cho biết, trước đây khi chưa trồng loại rau này, người dân chủ yếu làm nghề rà tìm phế liệu chiến tranh, đi làm thuê, cuộc sống khó khăn trăm bề. Từ ngày trồng loại rau này, đời sống được nâng cao, nhiều người thoát nghèo, vươn lên làm giàu.

Theo ông Lợi, không dễ trồng rau liệt vì loại rau này chỉ thích hợp nơi sạch sẽ, có nguồn nước mát lành, khí hậu phải lạnh, có sương vào buổi sáng sớm. Đặc biệt, đáy ruộng càng nhiều đá, rau càng phát triển xanh tốt, nên rau này được gọi là rau trên đá. Rau liệt không chịu sống với nước bẩn, đất bùn, phân bón hay thuốc bảo vệ thực vật...

Có mặt tại ruộng rau liệt của chị Phan Thị Thảo ở thôn Hảo Sơn, chúng tôi mới biết được loại rau này sạch đến cỡ nào. Sau khi cày xới đất, chị Thảo phải đợi nước trong vắt mới nhẹ nhàng thả rau giống xuống ruộng. Theo lời chị, ruộng trồng rau phải có độ nghiêng nhất định để nước lưu thông, chỉ cần một tí ứ đọng, nước bị vẩn đục thì cây rau sẽ úa vàng và thối rễ. Đặc biệt, chỉ cần một chút phân bón hay thuốc bảo vệ thực vật vào thì chỉ sau 1 ngày, cây rau sẽ vàng lá và chết.

Ông Lợi cho biết mỗi m2 trồng rau liệt có thể thu 40-60 bó/năm. Mỗi bó bán ở chợ từ 4.000-6.000 đồng. Mỗi mùa trồng rau (từ đầu tháng 10 đến cuối tháng 2 âm lịch) thu hoạch từ 5-8 lứa. Sau mỗi mùa rau, nhiều gia đình lãi trên 100 triệu đồng. “Gia đình tôi trồng hơn 4 sào rau (2.000m2), mỗi mùa rau liệt thu nhập ít nhất là 90 triệu đồng, có năm rau được mùa được giá thì lãi đến 120 triệu đồng. Tôi đang dự định mở thêm diện tích trồng rau để tăng thu nhập”.

Không riêng gì ông Lợi, nhiều gia đình ở xã Gio An cũng đổi đời nhờ rau liệt. Chủ tịch UBND xã Hồ Xuân Hải cho biết: “Nhờ trồng rau liệt mà đời sống các hộ dân trong xã trở nên khấm khá. Hiện trên xã có trên 100 hộ trồng rau liệt với diện tích gần 10ha. Trung bình mỗi sào rau liệt 500m2 người dân thu lãi trên 25 triệu đồng”.

Rau liệt có rất nhiều cách chế biến, như nấu canh với tôm tươi, luộc chấm với ruốc, làm rau sống và món đặc sản là rau liệt xào với thịt bò... “Hiện nay, rau liệt Gio An đã có mặt trên hầu khắp thị trường cả nước. Chúng tôi đang tích cực tạo thương hiệu rau liệt Gio An để mở rộng đầu ra cho sản phẩm, giúp nông dân trồng rau yên tâm sản xuất” – ông Hồ Xuân Hải cho biết.




Nguồn: danviet.vn

Xem chi tiết »

Thứ Sáu, 9 tháng 1, 2015

Mùa rau cải trời quê tôi

0

Mùa rau cải trời quê tôi


Cuối năm, trời rét ngọt. Đây là thời điểm thuận lợi để những ngọn cải trời xanh mơn mởn. Và đã từ rất lâu rồi, rau cải trời hay còn gọi là rau tàu bay đã đi vào hồn ẩm thực xứ Quảng quê tôi...

Ở những vùng quê ven đồi xứ Quảng, hằng năm cứ vào mùa mưa, trên các vùng đồi núi xuất hiện một lọai rau rừng mọc chen chúc, tươi tốt. Đó là rau cải trời. Sở dĩ, nó còn có cái tên khác là rau tàu bay, vì vào những ngày nhiều gió, những bông hoa mang theo hạt bay vương vãi khắp không gian, trên mặt đất, nên loại cây hoang dại đó đổi thành tên rau tàu bay. Vì tính chất bay xa lan rộng của nó, nên khắp những vùng đồi núi, hình ảnh rau tàu bay mọc dày đặc, xanh mởn.

Rau cải trời
Rau cải trời (Ảnh minh hoạ, nguồn VOV).

Trong những bữa cơm gia đình tôi vào mỗi mùa mưa. Ngoài chén cá rô đồng kho mặn. Ngoài bắp chuối trộn tai heo, thì chén canh rau tàu bay không thể thiếu. Cứ vào mỗi buổi sáng, khi giọt sương còn đọng long lanh trên từng cánh rau, thì mẹ tôi và các bà thường xách rổ đến ven các đồi kiếm hái rau cải trời về, chế biến bữa cơm gia đình. 

Trong lúc chị em tôi bắt đầu tan học trở về nhà, trong lúc bố tôi vừa ở ngoài đồng về để nghỉ trưa, thì mẹ tôi đã chuẩn bị đĩa rau cải trời, với chén nước mắm thơm lừng, chua ngọt đã được chuẩn bị để ăn cùng với cơm trắng, cá kho. 

Không lấp lánh, phồn hoa như ở thành thị, cảnh và người quê tôi lúc nào cũng mang trên mình vẻ đẹp hiền hòa, chân chất. Quê tôi nằm bên cạnh nhánh sông Thu Bồn, đi thêm vài bước thì có vài ngọn đồi thấp thoáng, sơn thủy hữu tình nên nguồn thức ăn sẵn có trong tự nhiên vô cùng phong phú. Đó là những loại rau sạch không hoa chất, lúc nào cũng ướt át hơi nước, hơi sương. Đó là những con lươn, con ếch béo núc ních ẩn mình trên cánh đồng, hay đàn gà tơ núc ních bới giun sau cây rơm làng. 

Đặc biệt là loại rau cải trời. Rau cải trời mọc tràn lan, khắp nơi ở các đồi gần nhà tôi. Mẹ tôi bảo rằng, thời điểm hái rau cải trời ngon nhất là vào buổi sáng. Chỉ cần hái phần thân non và lá của rau cải thì có thể chế biến thành nhiều món khác nhau như luộc, xào tỏi, nấu canh, lẩu... Món rau cải trời có thể bóp chua, muối chua như rau cải nhà. Nước luộc rau cải trời có thể vắt thêm chanh, thêm chút bột nêm ăn với cơm. Tuy bình dân nhưng lại có hương vị riêng và ngon. 

Món ăn mà mẹ tôi thường chế biến từ cây rau cải trời, đó là món rau cải trời xào với thịt bò tươi. Nhưng tôi vẫn thích nhất là rau cải luộc. Vì ít tốn thời gian, công sức, và mẹ đỡ vất vả hơn. Chỉ cần bắt nước sôi luộc trong vài phút, khi rau gần chín tới cho vài hạt muối vào, vớt ra để ráo và bày ra đĩa. Còn nước luộc cải thì chỉ cần cho thêm chút muối, vài hạt nêm là coi như có món canh cải để dùng. 

Mẹ tổi còn kể rất nhiều món ăn xung quanh loại rau cải trời này. Rau cải trời nếu nấu canh với cá trê, cá lóc sẽ rất ngon và bổ. Đó đều là những thức ăn có sẵn trên đồng nội. Và nếu những lúc nhà tôi có ai bị cảm nắng, thì chỉ cần một tô canh cải trời, với cá trê trắng sẽ làm dịu cơn khát và hết bị cảm. Khói cần đến những viên thuốc cảm khó uống. 

Ngoài ra, rau cải trời thường có vị đắng, mùi thơm, có tác dụng cầm máu, sát trùng cũng rất hay. Mẹ tôi từng bảo rằng, rau cải trời là loại thực phẩm có sẵn trong tự nhiên, giúp cả nhà ngoại vượt qua những trận đói dai dẳng của những năm mất mùa, đói khát. 

Và rau cải trời, được bộ đội ta gọi với cái tên thân thương là rau tàu bay. Rau tàu bay là loại lương thực, giúp quân và dân ta "ăn no đánh thắng" một thời. Những ngày đói rét trong rừng, phải cầm cự để đánh giặc, thì có gì hơn là vài ngọn rau rừng xanh mướt, vài con cá ngoài suối. Trong đó, có rau tàu bay. Rau tàu bay mọc hồn nhiên giữa rừng núi, mạnh mẽ vượt qua bao khói đạn của chiến tranh, đã nuôi sống quân và dân ta trong trường kì kháng chiến.

Rau cải trời đã gắn với tuổi thơ ấu của tôi, gắn với mỗi bữa cơm gia đình thuần nông quê tôi. Và cái màu xanh đậm chất quê, sức sống mãnh liệt của rau cải trời giống như bản chất của người dân quê tôi, luôn biết vượt qua mọi khó khăn để vươn lên trong mọi hoàn cảnh. Mỗi người dân quê như mỗi cây cải trời, tự nhiên, mạnh mẽ vươn lên giữa trời đất.

Tôi yêu ngọn cải trời, yêu dáng mẹ qua những mùa mưa!
Xem chi tiết »

Lẩu cá

0

Lẩu cá


PNCN - Vào những ngày tiết trời trở lạnh, cả nhà cùng quây quần bên nồi lẩu nghi ngút khói, sẽ thấy ấm cúng và dễ chịu. Để thay đổi khẩu vị, bạn có thể lựa chọn những món lẩu cá sau đây.

Đầu tiên là khâu chọn nguyên liệu, cá càng tươi sống càng ít tanh. Kế tiếp là khâu rửa cá, phải lấy hết máu ở đầu và hai bên xương sống, cho muối vào chà rửa thật sạch. Sau cùng bạn hãy ngâm cá vào nước muối pha loãng rồi nước đường pha loãng khoảng hai-ba phút, lấy ra để ráo trước khi chế biến, cá sẽ mất mùi tanh. Khi ngâm xong không cần xả lại nước lạnh.


Nồi nước dùng lẩu không kém phần quan trọng, thông thường dùng xương ống hoặc xương đuôi heo sẽ cho nước ngọt hơn. Xương rửa sạch, cho vào nồi chờ nước sôi bùng thì nhấc xuống, xả lại nước lạnh cho sạch, cho xương vào nồi nước nóng để nấu, khi sôi vớt bọt, vặn lửa nhỏ, thỉnh thoảng lại vớt bọt cho nước dùng trong.

Lẩu cá chép om dưa: Cá chép lựa con vừa, nếu muốn béo thì lựa con không có trứng, rửa sạch rồi chiên sơ. Sườn non chặt miếng vừa ăn, chần nước sôi để khử mùi hôi. Dưa cải chua và cà chua rửa sạch, cà chua cắt múi cau. Bắc nước lên, nước sôi cho sườn và dưa vào, nêm ít muối và bột nêm rồi vặn lửa nhỏ hầm cho sườn mềm và ra chất ngọt. Múc nước dùng ra lẩu, phi thơm hành tỏi rồi thả cà chua vào xào sơ rồi cho cà, cá vào nồi lẩu. Nêm thêm ít đường, nước mắm cho vừa ăn. Dùng nóng với bún và nước mắm ớt nguyên chất. Rau ăn kèm gồm có xà lách thái nhỏ, rau tía tô, kinh giới, húng lủi, giá, rau mùi trộn đều.


Lẩu cá điêu hồng nấu mẻ: Cá điêu hồng rửa sạch, nếu cá lớn có thể cắt làm hai, ướp với muối, bột ngọt, bột nêm, tiêu và hành tím băm nhuyễn. Nấu nước dùng riêng. Cà chua cắt múi cau, mẻ chua cho vào rây, lọc lấy nước, bỏ xác. Thì là, hành lá, rau cần nước rửa sạch, cắt khúc, xếp ra đĩa. Phi thơm tỏi, cho ít dầu điều và cà chua vào xào sơ, đổ cà chua vào nồi nước dùng, thả cá vào, nêm thêm nước mắm, đường, bột nêm vừa ăn, cá chín thả ít thì là vào rồi tắt bếp, cho mẻ chua vào. Mẻ chua không cho vào sớm vì sẽ giảm chua và vị trở nên chát. Khi ăn múc nước dùng và cá ra lẩu, ăn kèm với bún và rau cần nước, thì là và nước mắm ớt nguyên chất.

Lẩu đầu cá bớp lá giang: Cá bớp là loại cá đặc trưng của miền biển, đặc biệt ở miền Trung. Thịt cá trắng, ngọt, dai và vị béo. Đầu cá có nhiều sụn, nấu canh hoặc nấu lẩu đều ngon. Đầu cá rửa sạch, chặt ra từng miếng hơi lớn, ướp với nước mắm, bột nêm, tiêu và hành tỏi băm nhuyễn. Khi thấm đem đầu cá xào sơ rồi thả cá vào nồi nước dùng heo đã hầm sẵn, cá chín cho lá giang vò nát vào nấu, nêm nếm gia vị cho vừa ăn. Múc ra nồi lẩu dùng nóng với bún và nước mắm ớt nguyên chất.


Lẩu đầu cá hồi măng chua: Đầu cá hồi cắt miếng vừa ăn, rửa sạch, ướp với muối, hạt nêm, tiêu, ít rượu trắng và gừng cắt sợi cho bay mùi tanh. Sau đó đem cá xào sơ. Me cho ít nước vào lọc bỏ xác. Cà chua cắt múi cau. Măng chua rửa sạch vắt ráo. Phi thơm hành tỏi, cho cà chua vào xào, đổ cà chua vào nồi nước dùng, nước sôi cho nước me, măng chua và cá vào nêm nếm lại vừa ăn rồi múc ra lẩu dùng nóng. Rau ăn kèm có rau muống, bắp chuối bào, rau đắng, kèo nèo, giá hoặc tùy thích.

Lẩu cá chẻm nấu môn: Cá chẻm chọn mình hoặc đầu cá tùy thích, đầu cá sẽ béo hơn. Cá làm sạch, để ráo, ướp muối, đường, bột ngọt để khoảng 15 phút cho gia vị thấm vào cá. Phi thơm tỏi cho vàng rồi cho cá vào chiên sơ, khi cá vàng đều thì vớt ra để riêng. Khoai môn gọt vỏ, xắt miếng, chiên sơ rồi cho vào nước dùng nấu, thêm gừng để át mùi tanh của cá. Khi khoai gần chín thì cho cá vào nấu chín, nêm nếm vừa ăn. Rau ăn kèm là cải xanh, cần nước, tần ô, hẹ. Ăn lẩu với bún, chấm với chao, ớt sa tế, nước mắm ngon.



Nhã Văn
Nguồn: phunuonline.com.vn

Xem chi tiết »

Thứ Năm, 8 tháng 1, 2015

Ghé cửa ngõ Phan Thiết thưởng thức bánh hỏi lòng heo

0

Ghé cửa ngõ Phan Thiết thưởng thức bánh hỏi lòng heo


PNO - Đến Phan Thiết và hỏi về món bánh hỏi lòng heo, cam đoan rằng bạn sẽ nhận được câu trả lời “Bánh hỏi lòng heo Phú Long” - vùng đất sản sinh và chế biến món ăn này ngon nhất.


Bởi vậy, mà mặc dù tại Phan Thiết cũng có vô số quán bán món này, nhưng người sành ăn vẫn không ngần ngại chạy xa một chút. Và, cũng chẳng lạ khi hầu hết các quán bán món ngon này đều có gốc Phú Long.

Phú Long nằm ở mé ngoài, cách trung tâm thành phố Phan Thiết chừng 7km về phía Bắc. Với vị thế cửa ngõ, trên trục quốc lộ 1A nên từ lâu nơi đây đã là “trạm dừng chân” thưởng thức món ngon của nhiều du khách trước khi đến với vùng đất của nắng vàng biển xanh.

Đơn giản nhưng lắm công phu


Bánh hỏi lòng heo có thể dùng cho cả ngày, nhưng thích hợp nhất vẫn là bữa sáng, vì vừa giàu năng lượng vừa thanh cảnh. Để có được mẻ bánh hỏi vừa ý, sau khi chọn được loại gạo phù hợp, người làm bánh sẽ ngâm qua đêm, xả đi xả lại thật sạch. Sau đó là nhiều công đoạn tỉ mỉ khác trước khi cho ra đời những sợi bánh trắng tinh, ráo hoảnh nhưng mềm mượt, tan trong miệng.


Với lòng heo, chủ quán thường đến lò mổ từ tinh mơ, chọn về những mẻ lòng non, ngon nhất. Lòng sau đó được sơ chế kĩ lưỡng, hấp trong nồi với gừng, riềng cho vừa chín, giòn sừn sựt, ngọt lừ và phục vụ nóng hổi cho mỗi lượt khách. Một đĩa lòng đầy đủ dù lớn hay nhỏ đều có: tim, gan, cật, phèo non, thịt ba chỉ và dồi nướng. Nhưng, tùy vào sở thích bạn có thể gọi cho mình những món lòng riêng.

Ngon nhất, đồng thời làm nên điểm nhấn cho mỗi quán nằm ở món dồi hấp và dồi nướng. Mặc dù mỗi nhà mỗi bí quyết nhưng tựu chung, dồi thường được nhồi với hỗn hợp tiết, thịt bằm, rau thơm, gia vị… sau đó được hấp, chiên vàng hoặc nướng thơm nức trên lửa than hoa. Khi ăn thì thái từng lát xéo, để lộ phần nhân nóng hổi, hấp dẫn bên trong.


Ăn kèm bánh hỏi lòng heo còn có bánh tráng mỏng và rau sống. Để bánh dẻo dai, người bán thường cẩn thận lau sạch từng cái, cắt miếng tam giác, phơi sương hoặc ủ lá chuối. Rau sống ăn kèm thường là húng lũi, xà lách, tía tô, quế, ớt xanh… được lấy từ nguồn địa phương, nhỏ nhưng thơm thanh.


Khi mà mâm bánh hỏi mềm mại, trắng nõn; đĩa lòng heo nóng hổi thơm lừng; rổ rau sống trồng trên cát biển xanh mướt được dọn ra, món ăn vẫn chưa thể hoàn hảo nếu thiếu bát nước chấm đỏ au, quyến rũ được nấu tương tự như nước chấm của món bánh xèo, bánh căn địa phương.

Nước chấm ăn bánh hỏi lòng heo nhất thiết phải được nấu từ nước mắm ngon. Người Phan Thiết thường luộc cà chua, ớt sừng, xay nhuyễn để lấy màu đỏ tươi tự nhiên. Tiếp đến nước mắm sẽ được nấu loãng với đường, nước và hỗn hợp bên trên. Để thêm vị chua thanh, nhiều nơi còn chắt thêm ít me vắt hoặc cho thêm tép chanh mọng nước vào sau cùng. Vì là nước mắm nấu nên tô nước chấm ăn kèm lúc nào cũng nóng hổi, đậm đà.


Một thành phần nhỏ, nhưng không thể thiếu cho món này chính là tóp mỡ gion giòn được làm từ bánh mì sấy khô, mỡ heo và hành lá. Vậy nên, không ngoa khi nói bánh hỏi lòng heo là sự kết hợp tuyệt vời của cả hương vị lẫn sắc màu.

Ăn ở đâu?


Thông thường có hai cách để ăn bánh hỏi lòng heo. Bạn có thể cho mỗi thứ một ít vào chén, chan nước chấm vào và thưởng thức từng gắp. Cách thứ hai, có phần thông dụng hơn đó là trải miếng bánh hỏi lên miếng bánh tráng nằm gọn lòng bàn tay, thêm chút rau sống, dồi, tóp mỡ, lòng, cuốn lại, chấm cùng nước chấm và nhâm nhi.



Những ngày thu, giữa cái không khí bàng bạc, se lạnh của sắc trời buổi sớm Phan Thiết, được thưởng thức một đĩa bánh hỏi lòng heo thơm lừng nóng hổi thì còn gì tuyệt bằng. Nếu có dịp ghé đến Phan Thiết, bạn đừng quên thêm “Bánh hỏi lòng heo Phú Long” vào danh sách những món sẽ khám phá nhé!


Một số địa chỉ bán bánh hỏi lòng heo mà bạn có thể tham khảo:

- Trong chợ Phan Thiết (chợ tạm đối diện bến xe Bắc trên đường Từ Văn Tư).

- Quán Quỳnh, quán Hiền – Phú Long, Hàm Thuận Bắc.

- Quán bánh hỏi lòng heo Phú Long đối diện trường cấp 3 Phan Chu Trinh, Phan Thiết.

Một lưu ý nữa cho bạn là bữa sáng của người Phan Thiết thường kết thúc lúc 9h, vậy nên muốn khám phá món ăn này, bạn phải dậy sớm, để có thể thưởng thức trọn vẹn những hương vị ngon tuyệt của bánh hỏi lòng heo.



Bài: NGUYỄN AN
Ảnh: NGÔ HIẾU
Xem chi tiết »

Thơm mềm như bò tơ lên mâm phố Thái Phiên

0

Thơm mềm như bò tơ lên mâm phố Thái Phiên


Bò tơ là giống bò non, mỗi con chỉ khoảng 30 - 40kg, thịt mềm và thơm, người khó tính mấy ăn một lần cũng thích mê.

Tại các phố trung tâm Hà Nội chỉ có vài nhà hàng treo biển bò tơ Củ Chi (TP.HCM), và trong số đó cũng không phải tiệm nào cũng “xịn”. Thế nên khi nhận được nhiều phản hồi tích cực từ các khách ruột về món bò tơ lên mâm, chủ tiệm này đã rất tự hào: "Chỉ nhà mình mới có nguồn nhập bò tơ tốt, các khách ăn ở đây là hoàn toàn yên tâm”.

Set bò tơ đủ cho khoảng 4 người ăn gồm mẹt bò 3 món và một niêu lẩu cháo bò bằm. Mẹt tre lót giấy bạc để giữ nhiệt nên bò bưng ra rất thơm, nóng hổi. Nhân viên quán không quên nhắc khách phải thưởng thức ngay mới ngon. Chỉ nhìn 3 món ăn trình bày bắt mắt, có đủ các loại rau, củ đồ ghém bao quanh cũng khiến thực khách đã muốn “rớt nước miếng”.

Set bò tơ lên mâm.
Set bò tơ lên mâm.
Set bò tơ lên mâm.

Để cảm nhận độ mềm thơm tuyệt vời của bò tơ thì bạn phải khai vị bằng gỏi tái chanh. Miếng thịt cả phần nạc lẫn phần bì đều mềm như nhau. Ai muốn nhẩn nha thì cuốn cùng bánh đa với lá thơm, người ăn cấp tập thì cứ thể mà chấm mắm nêm. Dù thưởng thức cách nào khách cũng thấy ngon và “kết” ngay từ miếng đầu tiên. 

Bò tơ nướng giềng mẻ, hay bò tơ hấp mía càng thơm “quyến rũ” khi được bổ sung thêm các loại gia giảm. Người sợ béo thì chấm điểm cho món bò nướng bởi món này chỉ chọn phần thịt nạc rồi nướng than hoa cháy cạnh. Nạc nhưng không bao giờ bã là ưu điểm của món. Ngược lại, béo ngậy hơn là bò hấp, song dù có chút dải mỡ thì mỡ bò tơ cũng không hề dai và ngán.











Món nào đi kèm thức nấy thể hiện sự cẩn thận của đầu bếp. 3 món bò là kèm 3 loại tương với mắm nêm khác nhau để món ăn hoàn thiện nhất. Nhưng đã như thói quen ăn nhậu của người Hà Thành bấy lâu, một set ăn hoàn chỉnh không thể thiếu đi món lẩu “chốt hạ”, nhất là trong tiết trời trở lạnh. Lẩu cháo là sự lựa chọn thông minh bởi sau một chặng no nê với thịt thì khách có nhu cầu xì xụp chén cháo ngấm vị ngọt nước xương bò hầm, lẫn cẫn thịt bò băm nhỏ và vui miệng hơn với nấm giòn ngọt. Ngoài ra, niêu lẩu cháo này cũng được chuẩn bị kỹ lưỡng với đủ loại rau(rau bina), hành, tía tô, gừng.





Quả thật, khi đã ấm bụng với set ăn thú vị này, bạn có thể khẳng định bò tơ chính là cái “nền chuẩn căn bản” khiến các món ăn dù không quá cầu kỳ, sáng tạo vẫn luôn luôn chinh phục được thực khách. 

Chỉ còn vấn đề khiến khách đắn đo chính là giá. 510.000 đồng/set có lẽ không hề đắt cho một đặc sản còn hiếm ở Hà Nội. Ngoài ra, không gian quán lịch sự, vị trí rất trung tâm, nằm ngay đối diện trung tâm thương mại Vincom Bà Triệu cũng là điểm cộng cho nhóm bạn thêm động lực khám phá món ăn này. Địa chỉ: Quận Nhất Quán 29 Thái Phiên, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội.



Hoàng Nhi
Nguồn: news.zing.vn

Xem chi tiết »

Thứ Tư, 7 tháng 1, 2015

Phòng bệnh cho rau vụ đông

0

Phòng bệnh cho rau vụ đông


Nguyên tắc phòng bệnh hơn trị bệnh luôn được đặt lên hàng đầu. Bệnh hại cây trồng đều là những vi sinh vật mắt thường không nhìn thấy được, nên khi chúng xâm nhập gây hại thì người trồng mới biết. Vì thế cần tìm hiểu kỹ quy luật phát sinh, phát triển của các loài nấm, vi khuẩn gây bệnh cây trồng mà có biện pháp tác động kịp thời, hiệu quả.

- Bố trí gieo trồng với mật độ vừa phải: Nếu trồng thưa sẽ không năng suất dẫn đến hiệu quả thấp. Trồng mật độ quá dày sẽ tạo điều kiện cho nấm bệnh phát sinh gây bệnh mạnh, vì độ ẩm trên thân lá cây trồng lớn. Bệnh thối gốc, lở cổ rễ hoặc thối nhũn vi khuẩn cũng dễ phát sinh khi mật độ dày... Do đó phải bố trí trồng mật độ vừa phải.

- Tạo cây khỏe: Làm được việc này là thành công một nửa, bởi cây trồng khỏe mạnh sẽ có sức chống chịu tốt, kháng được sâu bệnh hại và sinh trưởng phát triển thuận lợi hơn. Muốn vậy, việc bón phân tưới nước cho rau màu cần chú ý:

+ Không tưới nước quá đẫm hoặc để luống rau quá khô. Tốt nhất nên duy trì độ ẩm đồng ruộng ở mức 75 - 80% (đất tạo khối khi nắm và không có nước rỉ ra kẽ tay). Không nên tưới nước lúc chiều muộn, vì thân lá cây trồng về đêm còn đọng nước sẽ tạo điều kiện cho nấm bệnh xâm nhập dễ dàng.

+ Việc bón phân cho rau màu cần cân đối nhất là đạm và kali, đầy đủ về các yếu tố trung vi lượng Mg, S, Ca, Cu, Zn, Bo... thì cây trồng mới đảm bảo khỏe mạnh để chống chọi với những bất lợi của thời tiết cũng như dịch bệnh.

+ Tuyệt đối không nên bón urê riêng lẻ, nhất là thời kỳ cây con hoặc giai đoạn cây phát triển thân lá. Vì bón đạm đơn thân lá cây trồng sẽ mềm yếu dễ bị sâu bệnh hại tấn công.

- Sử dụng thuốc phòng bệnh cho cây: Muốn làm tốt công việc này cần phải tìm hiểu kỹ về quy luật phát sinh phát triển của các vi sinh vật gây bệnh cũng như am hiểu về các loại thuốc phòng bệnh, cách sử dụng như thế nào cho tốt...

Như trên đã nêu, ẩm độ cao là môi trường thuận lợi cho các loài nấm, vi khuẩn gây bệnh cây trồng phát sinh và gây hại. Vì vậy, nếu thời tiết có sương mù hoặc mưa ẩm kéo dài cần tiến hành phun thuốc phòng bệnh cho cây định kỳ 5 - 7 ngày/lần.

Thuốc phòng bệnh được sử dụng và có hiệu quả cao nhất khi cây trồng chưa có triệu chứng bệnh. Nếu thấy ruộng rau đã chớm bị bệnh nên sử dụng thuốc đặc trị để phun mới có hiệu quả. Tốt nhất lúc này nông dân nên nhờ các cán bộ chuyên môn chẩn đoán và tư vấn kỹ thuật để đạt kết quả cao nhất.

Thuốc phòng bệnh cho cây trồng có 2 dạng sinh học và hóa học.

Thuốc sinh học là các chế phẩm: Nấm đối kháng Trichodecma phòng các bệnh về rễ cây trồng gây chết rũ. Nấm men Streptomyces hygroscopius var phòng bệnh chết rạp cây con trên cà chua, khoai tây... Các chế phẩm này khi phun cần sử dụng riêng rẽ, không được phối trộn với các thuốc hóa học.

Thuốc hóa học phòng bệnh là các thuốc thuộc nhóm gốc đồng như Boocdo 1%, Coc 85WP, Funguran - OH 50WP, Cuproxat 345SC, Vidoc... Đây là các thuốc có phổ tác động rộng dùng để phòng bệnh là chính.

Thực tế cho thấy, do không hiểu rõ về cơ chế tác động nên nhiều nông dân thường sử dụng các loại thuốc đặc trị bệnh dùng để phun phòng bệnh định kỳ cho rau màu như thuốc Rhidomil, Topsin... sẽ không mấy tác dụng khi phun vì nấm đã kháng thuốc, gây tốn kém, lãng phí.

Về cơ chế tác động, thuốc phòng bệnh là những loại thuốc có tác dụng bao phủ bề mặt thân lá cây trồng, ngăn chặn không cho nấm và vi khuẩn tấn công vào các tế bào cây.

Vì vậy, khi cây trồng chưa bị bệnh nhưng gặp thời tiết tạo thuận lợi cho bệnh hại phát sinh thì cần sử dụng thuốc này để phun lên toàn bộ thân lá, có tác dụng như một màng chắn, một lớp bảo vệ không cho vi sinh vật gây bệnh xâm nhập.



Nguồn: danviet.vn

Xem chi tiết »