Thứ Năm, 5 tháng 2, 2015

Phương thuốc tiêu biểu từ rau muống

0

Phương thuốc tiêu biểu từ rau muống

Rau muống

Mùa hè có nhiều loại rau khác nhau, nhưng rau muống vẫn là loại rau dân dã, dễ chế biến lại dễ ăn và có thể thu hái quanh năm nhưng vào dịp hè là thuận lợi hơn cả. Ngoài tên gọi là rau muống còn nhiều tên gọi khác như vô tâm thái hay ung thái hoặc uông thái, thông thái, không tâm thái...

Rau muống có tên khoa học là Ipomoea aquatica Forsk, thuộc họ khoai lang, có tài liệu gọi là họ bìm bìm (Convolvulaceae).

Người ta đã phân tích thành phần dinh dưỡng có trong 100g rau muống thấy nước chiếm 78,2g, protein 2,7g, canxi 85mg, phospho 31,5mg, sắt 1,2mg, vitamin C 20g, vitamin B2, caroten, acid nicotic, nicotic, đặc biệt trong giống rau muống đỏ chứa một chất giống như insulin nên đối với người mắc bệnh đái tháo đường ăn thường xuyên rau muống đỏ là rất tốt, có thể cải thiện bệnh chứng...

Để tham khảo, đồng thời có thể chọn lựa áp dụng sao cho thích hợp, an toàn, hiệu quả, dưới đây xin giới thiệu những phương thuốc tiêu biểu từ rau muống.
- Trị trẻ nóng nhiệt ra mồ hôi mùa hè: Lấy rau muống 100g, mã thầy 500g, sắc lấy nước cho trẻ uống thay nước trong ngày.

- Thanh nhiệt lương huyết, cầm máu, chữa tâm phiền, chảy máu mũi, lưỡi đỏ rêu vàng, khát nước mát, ù tai chóng mặt: Rau muống 150g, cúc hoa 12g, đun sôi 20 phút lọc lấy nước (có thể cho chút đường hòa vào cùng uống trong ngày).

- Chữa kiết lỵ mùa hè: Lấy 400g cọng rau muống tươi, vỏ quýt khô lâu năm một ít, nấu nhỏ lửa trong nhiều giờ, lấy nước uống trong ngày.

- Ngộ độc thức ăn: Lấy rau muống một nắm giã vắt lấy nước cốt uống, nếu nặng mất nước, nhiễm độc phải đi viện cấp cứu ngay.

- Trị đau dạ dày, nóng ruột, ợ chua, miệng khô đắng: Rau muống 20g, rau má 20g, rau sam 16g, cỏ mực 20g, vỏ quýt 12g, tất cả sao qua cho vào ấm đổ 500ml nước, sắc nhỏ lửa còn 250ml, chia 2 lần uống lúc đói.

- Trị tiểu đường: Rau muống đỏ 60g, râu ngô 30g, sắc lấy nước uống trong ngày, cần uống một thời gian dài.

- Chữa đẹn trong miệng hoặc lở loét miệng trẻ em: Rau muống tươi 100g, củ hành lá tươi 50g, nấu canh lấy nước cho trẻ uống.

- Lở ngứa ngoài da, zona: Lấy ngọn rau muống, lá vòi voi mỗi thứ một nắm giã nhuyễn với ít muối đắp lên vết thương.

- Rôm sảy, mẩn ngứa, thủy đậu: Rau muống tươi một nắm to, rửa sạch nấu lấy nước xoa, rửa, tắm.

- Trị quai bị: Lấy rau muống 200-400g, luộc ăn cả cái lẫn nước, có thể pha chút đường vào nước mà uống.

- Đau đầu, chảy mủ tai: Rau muống 100g, thịt chó 100g, cho cả vào hầm đến khi thấy thịt chó nhừ là được. Ăn thịt chó, rau muống, uống nước rau. Cần ăn liền vài ngày.

- Trị bốc hỏa đau răng: Rễ rau muống 100g, giấm, nước mỗi thứ một nửa, sắc lấy nước ngậm ngày vài lần.

- Đại, tiểu tiện ra máu: Lấy rau muống lượng vừa đủ, rửa sạch, vò nát vắt lấy nước cốt cho mật ong vào uống. Ngày 1-2 lần.

- Trị đi ngoài ra máu, đái ra máu, nước tiểu đục: Rau muống tươi giã nát vắt lấy nước cốt cho mật ong vào uống, mỗi lần 30-50ml.

- Trị chứng chảy máu mũi: Rau muống tươi 100g, đường đỏ vừa đủ, sau nghiền nát cho nước sôi vào mà uống.

- Dạ dày, ruột thấp nhiệt (đi ngoài phân cứng rắn): Hằng ngày lấy rau muống xào hay nấu canh ăn.

- Trị chứng lòi dom, trĩ: Lấy 100g rau muống nấu nhừ gạn lấy nước, cho 120g đường trắng, nấu lên thấy sánh như kẹo mạch nha lấy uống, ngày 2 lần, mỗi lần 100g.

- Trị mụn nhọt mưng mủ: Lấy rau muống tươi rửa sạch, lượng vừa đủ, giã nhuyễn, trộn với mật ong vừa phải, rồi đắp vào mụn nhọt.

- Trị say sắn: Lấy một nắm rau muống giã nát vắt lấy nước cốt cho uống một bát chừng 100-150ml nếu nặng phải đi viện cấp cứu.

Y học hiện đại đã chứng minh rằng rau muống cung cấp nhiều chất xơ, vitamin C, vitamin A..., những người cao tuổi ăn rau ngày 2 bữa có não trẻ hơn 5 năm và ít bị suy giảm tinh thần hơn 40% so với những người ăn ít rau mỗi ngày hoặc không ăn rau.

Đông y cho rằng rau muống có vị ngọt, tính hơi lạnh (khi nấu chín thì lạnh giảm) đi vào các kinh tâm, can, tiểu trường, đại trường. Có công năng thanh nhiệt, lương huyết, chỉ huyết, thông đại tiểu tiện, lợi thủy, giải độc khi cơ thể bị xâm nhập các chất độc của nấm độc, cá, thịt độc, lá ngón, khuẩn độc, hoặc độc chất do côn trùng, rắn, rết cắn... Rau muống có nhiều tính năng và tác dụng trong việc phòng, chữa nhiều chứng bệnh mà tiêu biểu là thanh nhiệt, giải độc trong mùa hè, thanh nhiệt, lương huyết, cầm máu, chữa tâm phiền, chảy máu mũi, lưỡi đỏ rêu vàng, khát nước, ù tai, chóng mặt, đau đầu do tăng huyết áp, đau dạ dày, nóng ruột, ợ chua, miệng khô đắng, say hay ngộ độc sắn, giải độc do ngộ độc thức ăn, các chứng chảy máu (chảy máu cam, ho nôn ra máu, tiểu tiện đục hay ra máu, trĩ, lỵ...), sản phụ khó sinh, khí hư, bạch đới, phù thũng toàn thân do thận, bí đái, tiểu đường, quai bị, chứng đẹn trong miệng ở trẻ, lở ngứa, loét da, zona (giời leo), rôm sảy, sởi, thủy đậu ở trẻ em, ong đốt, rắn giun cắn...




Nguồn: sưu tầm

Xem chi tiết »

Thứ Tư, 4 tháng 2, 2015

CẨM NANG RAU ĂN QUẢ

0

CẨM NANG RAU ĂN QUẢ

1. Đất trồng

Trừ dưa leo có yêu cầu cao về đất trồng, các cây rau ăn quả khác có thể trồng được trên nhiều loại đất khác nhau, không phèn mặn, thoát nước tốt, có tầng canh tác tương đối. Do vậy, khi chuyển đất lúa sang trồng cây rau ăn quả cần chú ý:

- Cần thiết cải tạo đất bằng việc đầu tư phân bón, nhất là các loại phân hữu cơ.

- Cày sâu dần kết hợp bón vôi, phân hữu cơ để tăng độ dày tầng canh tác.

- Cải tạo hệ thống tưới tiêu thủy lợi phù hợp cho việc trồng rau như thiết kế hệ thống dẫn nước tới ruộng hoặc khai thác nước ngầm để đảm bảo đủ lượng nước tưới; làm hệ thống tiêu nước, nhất là hệ thống thoát nước nội đồng.

- Đối với vùng đất xám (Huyện Củ Chi, Hóc Môn): Chọn vùng triền từ vừa đến cao, vùng triền thấp chỉ trồng nhóm rau cạn trong mùa nắng, tránh trồng trong mùa mưa có thể bị ngập úng. Trong mùa mưa hoặc Đông Xuân sớm, cần xẻ mương quanh ruộng sâu từ 30-50cm, lên luống theo hướng dốc để dễ thoát nước, tất cả nước trong ruộng đều được thoát ra cống (hoặc đường thoát chính).

- Đối với vùng Bình Chánh: phải xẻ mương và lên mô trồng, mô cao cách mặt nước ít nhất 50 cm.

2. Giống

Có nhiều giống F1 có năng suất cao, kháng sâu bệnh và nhiều giống địa phương chất lượng phù hợp với thị trường. Nông dân có thể chọn lựa giống trồng phù hợp thị trường. Tuy nhiên, giá giống F1 còn khá cao.

3. Phân bón

- Cần sử dụng nhiều phân hữu cơ để tăng độ màu mỡ cho đất.

- Cần sử dụng lân, vôi để cải tạo đất hạ độ chua, nâng pH lên đến độ thích hợp.

- Cần đầu tư nhiều phân vô cơ và hữu cơ để đạt năng suất cao.
Nông dân vẫn còn sử dụng phân bón theo kinh nghiệm và có quan niệm đầu tư phân cao để đạt năng suất cao nhưng chưa biết sử dụng phân bón cân đối và hiệu quả.

4. Phòng trừ sâu bệnh

Nông dân được tập huấn các biện pháp phòng trừ hiệu quả, theo quy trình sản xuất rau an toàn.

Có rất nhiều loại thuốc BVTV ít độc cho con người, môi trường đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm để phòng trừ sinh vật hại. Các loại thuốc này có thể mua dễ dàng ở các cửa hàng bán thuốc BVTV.

Có nhiều biện pháp kết hợp cho việc phòng trừ sâu bệnh như dùng màng phủ nông nghiệp trong mùa mưa, bón phân cân đối, làm sạch cỏ dại, làm giàn để hạn chế ngăn ngừa bệnh hại rau ăn quả hiệu quả.

Có mạng lưới BVTV từ thành phố đến xã phường, do vậy sẽ hướng dẫn và hỗ trợ kịp thời bà con nông dân khi dịch hại xảy ra.

Có nhiều loài dịch hại chính trên rau ăn quả như sâu khoang, rầy, bệnh gỉ trắng, đốm lá, tuyến trùng, có nhiều loại không thể phòng trừ hiệu quả được do nấm bệnh nằm trong đất như héo rũ, bệnh virus… 

Sử dụng thuốc BVTV với số lượng và chủng loại nhiều. Thời gian cách ly an toàn cho sản phẩm khó đảm bảo.

5. Vật tư, thiết bị sản xuất

Hiện nay, trồng rau quả cần một số vật tư, thiết bị sản xuất như cây chà, dây đen hoặc lưới. Có thể mua các vật tư này dễ dàng ở các đại lý, chỉ có cây chà là giá cả khá cao. Trong tương lai cần nghiên cứu phương pháp hoặc loại vật tư để thay thế chà.
Sử dụng cơ giới làm đất dễ dàng.

6. Nguồn vốn

Cần chi phí đầu tư cao, nhất là chi phí cho vật tư và thuốc BVTV. Với cây họ bầu bí, chi phí nặng nhất là cây chà, lưới.

Cần vốn đầu tư cao (15 - 50 triệu đồng/ha). Nếu sản xuất lớn nông dân không có đủ vốn.

7. Lao động

Cần có lực lượng lao động thường xuyên (5 - 10 người/ha), có giai đoạn cao điểm kéo dài trong một thời gian như: làm đất, cắm chà, thu hoạch.

Có một số khâu kỹ thuật như gieo ươm, trồng cây, chăm sóc cần có kinh nghiệm.

8. Tổ chức sản xuất

Đòi hỏi kỹ thuật sản xuất thâm canh cao, biết áp dụng các biện pháp kỹ thuật mới như dung màng phủ nông nghiệp, gieo ươm bằng vỉ, hệ thống tưới. Có kinh nghiệm tổ chức sản xuất để hạ giá thành, nâng cao năng suất. Do vậy, khi chuyển đổi từ sản xuất lúa sang rau, người nông dân cũng cần thay đổi những thói quen canh tác.

Nếu tổ chức thành vùng sản xuất tập trung và tham gia liên kết sản xuất sẽ dễ dàng trong luân canh cây trồng, phòng trừ sâu bệnh và tạo lượng hàng hóa lớn, chất lượng đồng đều.

II- TIÊU THỤ SẢN PHẨM

Mặt hàng rau ăn quả, ngoài tiêu thụ tươi tại chổ còn có thể tiêu thụ với số lượng lớn phục vụ cho nhu cầu chế biến và xuất khẩu như ớt cay thu chín và thu xanh xuất cho thị trường Hàn Quốc, cà tím muối và nướng xuất cho thị trường Nhật Bản (COFIDEX), trà bí đao, khổ qua (XN Cầu Tre), cà chua, ớt làm sốt (Cholimex), ớt bột (Công ty Việt Ấn), chip đậu, bí đỏ, khổ qua (Công ty Lusun). Nếu có những hợp đồng tiêu thụ ổn định sẽ khai thác được thế mạnh của loại rau này.

Nhưng hiện nay, đa số nông dân trồng rau ăn quả hiện nay vẫn phải tự tìm nguồn tiêu thụ sản phẩm.

Một số tổ hợp tác, HTX sản xuất rau an toàn đã có hợp đồng tiêu thụ ổn định với các doanh nghiệp kinh doanh rau an toàn, với hệ thống siêu thị, nhà hàng, khách sạn mang lại thu nhập cao.

Vì vậy nếu sản phẩm đạt chất lượng an toàn thì khả năng tiêu thụ tăng, cần qui họach vùng tập trung, gắn với địa điểm thu mua tại chỗ và gắn với hệ thống tiêu thụ thì sẽ mở rộng được sản xuất.

III- KỸ THUẬT SẢN XUẤT

Đối với rau ăn quả, phần lớn đều phải thông qua các công đoạn sau:

1. Gieo hạt:

Các hạt có kích thước lớn như các cây thuộc họ bầu bí như bí đao, bí đỏ, bầu, dưa leo, khổ qua, dưa leo có thể gieo trực tiếp xuống liếp trồng đã chuẩn bị sẵn. Nhưng hiện nay giá hạt giống F1 khá đắt nên một số nông dân thích gieo vào vỉ hoặc bầu gieo vừa tiết kiệm được hạt giống và quản lý cây con. Cách gieo hạt tập trung còn gọi là giai đoạn vườn ươm.

1.1. Chuẩn bị liếp gieo:

Chọn đất cao ráo, không bị ngập úng, thoáng, không bị che rợp. Liếp gieo rộng 0,8 - 1m để dễ chăm sóc, cao 20 - 30cm (tùy mùa vụ và chân đất). Mặt liếp cần bằng phẳng để liếp không đọng nước, cây hưởng ánh nắng, nước tưới và dinh dưỡng đồng đều. Mặt liếp này được dùng để đặt bầu hoặc vỉ gieo nên không cần trộn phân tro.

1.2. Đất gieo:

Trộn đều đất theo tỉ lệ 1 đất + 1 phân chuồng hoai mục + 0,5 tro trấu (nếu đất gieo có nhiều sét). Cho đất vào bầu hoặc vỉ gieo.

1.3. Bầu gieo:

Có thể làm bằng lá, bằng bao nylon hoặc hiện nay trên thị trường có bán loại vỉ gieo bằng mốp rất tiện dụng. Cho đất gieo vào bầu hoặc vỉ chặt vừa phải và hơi thấp hơn miệng bầu để sau khi gieo còn phủ thêm một lớp đất mỏng giữ hạt.

Tuỳ theo giống có thời gian cây con dài hoặc ngắn ta có thể chọn loại vỉ gieo lớn hoặc nhỏ, ví dụ gieo hạt họ bầu bí có thể chỉ cần chọn loại vỉ gieo 66 lổ, gieo hạt họ cà ớt có thể chọn loại vỉ gieo 25 lổ.

Gieo hạt nên đặt ở độ sâu vừa phải, gieo quá sâu hạt khó mọc, cây con mọc yếu, gieo quá cạn, rễ mầm bị trồi lên gặp ánh nắng sẽ bị thui chột và hư. Trước khi gieo nên xử lý hạt bằng cách ủ hạt hoặc trộn thuốc tùy cách gieo và loại hạt. Sau khi gieo hạt nên phủ một lớp rơm hoặc lưới mỏng để khi tưới hạt không bị trôi.

Chăm sóc sau khi gieo: Tưới giữ ẩm cho hạt mọc mầm, tránh quá ẩm hoặc quá khô, hạt sẽ khó mọc và cây con dễ bệnh. Trong trường hợp cây con phát triển kém, có thể bón thúc bằng DAP (nồng độ 10g/10lít nước) hoặc dùng các loại phân bón lá thích hợp theo nồng độ khuyến cáo.

1.4. Phòng trừ sâu bệnh:

- Sau khi gieo, rãi trên mặt vỉ gieo, mặt liếp và quanh liếp Basudin 10H trừ kiến Diaphos 10H hoặc Sago Super 3G.

- Bệnh chết rạp cây con (thắt cổ rễ): Khi ruộng vừa chớm có bệnh: gốc cây con úng nước, hoặc cây gục xuống nhưng lá vẫn xanh vào sáng sớm, sau đó phần gốc thân trở màu nâu đen, cây con chết thành từng chòm. Chuyển hết phần cây bệnh ra khỏi ruộng, dời cây con ra xa nhau. Chọn phun một trong những thuốc sau: Ridomil, Polygam, Topsin, Coc 85, Rovral, Vanicide, Hexin, Luster, Carbenzim phun ướt đều trên cây con. Sau khi phun ngưng tưới một ngày.

Có thể phòng bệnh bằng cách: Chọn nguồn đất gieo tơi xốp, màu mỡ, không quá nhiều cát hoặc sét, không sử dụng nhiều tro trấu mới, vườn ươm thoát nước tốt, cao ráo, không gieo quá dày và tưới quá ẩm, hoặc quá khô.
Tỉa cây, định hình tùy theo giống cây.

2. Chuẩn bị đất trồng

Đất trồng rau cần được cày bừa kỹ, cày 1 lần, xới 1 - 2 lần tùy theo độ tơi xốp, độ sâu tầng canh tác, lượm sạch cỏ và bón lót.

Vôi có thể bón kết hợp trước trong quá trình cày xới đất.

Lượng vôi bón cho nền đất lúa từ 1 - 2 tấn/ha (tùy theo độ chua của đất và nhu cầu của cây trồng). Bón vôi để cải tạo đất nên bón sớm khi cày xới đất.

Sau đó lên liếp và bón lót phân hữu cơ và các phân khác, nên trộn đều phân vào đất để khi cấy rễ cây con không bị xót phân. Phân bón lót có thể rãi đều trên mặt ruộng và xới đều, hoặc rãi trên hang định trồng cây và cũng xới đều.
Nếu có sử dụng màng phủ nông nghiệp, liếp phải được bón lót toàn bộ phân (trừ lượng phân bón thúc) và ổn định cả về chiều cao và mặt liếp, sau đó phủ màng phủ nông nghiệp trên mặt liếp, mặt sáng nằm phía trên, mặt đen tiếp xúc với mặt đất. Sau đó, dùng dụng cụ đục lỗ theo kích thước định trồng. Khoảng 2 tuần sau xuống cây là tốt nhất. Nếu không sử dụng màng phủ nông nghiệp có thể bón lót ½ phân hữu cơ, lên liếp thấp. Sau đó, có thể bổ sung phân hữu cơ trong lần thúc 1 kết hợp làm cỏ, vun luống cho liếp cao theo ý muốn. Tuỳ theo chân đất, mùa vụ và mực thủy cấp có thể làm liếp cao hoặc thấp.

3. Trồng ra ruộng sản xuất

Trồng khi cây đã đạt tuổi thích hợp (có thể đánh giá qua số lá, số ngày sau khi gieo), cây khỏe, không sâu bệnh. Nên trồng vào buổi chiều mát và tưới ngay sau khi cấy. Khi cấy cây nên ấn chặt gốc cho rễ cây mau bám vào đất, nếu gieo cây trong bầu phải xé bỏ bao nylon, tránh làm vỡ bầu gieo cây con mất sức.

Trồng dặm: 5 - 7 ngày sau khi trồng, cấy dặm các cây chết, cây dặm nên gieo sẵn trong bầu.

Chăm sóc.

Tưới.

Cắm chà, làm giàn.

Tỉa nhánh, sửa dây.

Bón phân.

Làm cỏ.

Phòng trừ sâu bệnh hại.



Nguồn: sưu tầm

Xem chi tiết »

Những "vị vua" trong "thế giới rau"

0

Những "vị vua" trong "thế giới rau"


Rau củ quả là nguồn thực phẩm bổ dưỡng chứa nhiều vitamin, khoáng chất và chất xơ… nên vừa có lợi cho sức khỏe, vừa giúp phòng chống bệnh tật.
Hãy khám phá nguồn dinh dưỡng tuyệt vời của 10 loại rau củ được xem là bổ dưỡng nhất trong “thế giới” rau hiện nay.

1. Cà rốt

Một ly cà rốt tươi chứa đến 34.317 IU vitamin A. Trong cà rốt cũng rất giàu beta carotene (hay còn gọi tiền vitamin A), giúp bảo vệ mắt và ngăn ngừa các bệnh về tim mạch, ung thư. Loại cây ăn củ này còn chứa nhiều chất dinh dưỡng và khoáng chất khác như: vitamin B, C, K, chất xơ, kali, mangan, phốt pho, magiê, folate.

2. Khoai lang

Khoai lang nướng lò cả vỏ cũng dồi dào nguồn vitamin A, beta – carotene và các chất chống oxy hóa. Ngoài ra, trong khoai lang còn chứa vitamin B6, vitamin C, khoáng chất đồng, sắt, mangan, kali, chất xơ. Đặc biệt khoai lang tím là loại khoai giàu antoxian và các hoạt chất chống oxy hóa nhất.

3. Cà chua

Cà chua còn giàu dưỡng chất hơn với khoảng trên 20 loại vitamin và khoáng chất. Một ly cà chua chín đỏ có thể cung cấp cho bạn số lượng lớn vitamin A, C và K. Bên cạnh đó cà chua cũng chứa kaki, mangan, crôm, vitamin B1, B6, folate, đồng, sắt và nhiều dưỡng chất thiết yếu khác.

Đặc biệt, hàm lượng lycopene cao trong cà chua còn là chất dinh dưỡng thực vật quan trọng có khả năng chống oxy hóa và chống ung thư.

4. Đậu nành

Đậu nành là một trong những loại thực phẩm giúp tăng cường sức khỏe được giới nghiên cứu đánh giá là tốt nhất trên thế giới hiện nay. Một ly đậu nành (đã nấu chín) có thể cung cấp cho cơ thể bạn rất nhiều dưỡng chất cần thiết như: protein, mangan, tryptophan, và hơn 10 loại chất dinh dưỡng quan trọng khác bao gồm: axít béo Omega-3, chất xơ, kali…

Chỉ cần một ly đậu nành, bạn đã bổ sung được hơn 50% nhu cầu protein cần thiết cho mỗi ngày.

5. Măng tây

Măng tây từ xa xưa đã được y học cổ truyền công nhận có tác dụng phòng chữa được nhiều bệnh như: tim mạch, cao huyết áp, ung thư, đái tháo đường, viêm bàng quang… Chồi măng tây màu xanh là nơi tập trung nhiều chất dinh dưỡng nhất. Một chén măng tây luộc cũng có thể cung cấp một nguồn tuyệt vời vitamin A, C, K, folate.

Măng tây còn chứa hơn 10 loại vitamin và khoáng chất, trong đó có vitamin B tổng hợp, kali, chất xơ…

6. Ớt chuông

Ớt chuông với bề ngoài bóng đẹp, màu sắc sinh động (xanh, đỏ, tím, vàng…) vừa dùng để ăn, vừa dùng trang trí trong các bàn tiệc.

Ớt chuông đa sắc màu và cũng đa dinh dưỡng. Một chén ớt chuông tươi, sắt mỏng có thể cung cấp cho bạn khoảng 5.244 mg vitamin A (đáp ứng hơn 100% nhu cầu cần thiết hàng ngày).

Đây cũng là một nguồn cung cấp vitamin C, B6, chất xơ, mangan, folate cực kỳ tốt.

7. Rau bina

Dinh dưỡng trong rau bina phải nói là đáng tự hào với cả kho hơn 35 loại vitamin và dưỡng chất thiết yếu.

Một chén rau bina luộc có thể giúp bạn bổ sung được khoảng hơn chục chất dinh dưỡng. Đáng ngạc nhiên hơn là nó còn cung cấp cho cơ thể hàm lượng vitamin A gấp 3 lần nhu cầu cần thiết hàng ngày và hơn 1.000% lượng vitamin K khuyến cáo đòi hỏi cần bổ sung mỗi ngày vì trong đó chứa tới 1.023 mcg vitamin K. Ngoài ra nghiên cứu còn tìm thấy trên loài rau xanh sậm lá này chứa nhiều flavonoid, một hợp chất có tác dụng chống độc tố, chống oxy hóa cao.

8. Cải bruxen

Cải bruxen - một loại bắp cải nhỏ rất giàu vitamin E, canxi, đồng. Các nghiên cứu trước đây cho thấy rằng chế độ ăn rau thuộc họ cải cao như cải bruxen, súp lơ, bắp cải, cải hoa… có thể làm giảm nguy cơ một số bệnh ung thư (ung thư phổi, ruột kết, ung thư vú, ung thư buồng trứng).

Một chén rau cải bruxen luộc cũng cung cấp cho bạn nguồn vitamin C, K, B complex, chất xơ, kali và vitamin A, một trong những chất chống oxy hóa quan trọng tìm thấy trong tự nhiên.

9. Súp lơ

Thành phần dinh dưỡng trong súp lơ rất giàu sắt, kẽm, vitamin E và hơn 20 loại chất thiết yếu khác. Súp lơ có thể ăn sống, luộc, hấp, xào, tuy nhiên việc hấp, xào súp lơ để ăn được khuyên dùng nhiều hơn vì cách thức chế biến này không làm giảm sự hiện diện của các hợp chất chống ung thư chứa trong loại rau này.

Một chén súp lơ có thể cung cấp cho bạn nguồn dinh dưỡng dồi dào vitamin A, C, K, folate, chất xơ, 505 mg kali và 102 mg phốt pho.

10. Cải xoăn

Trong cải xoăn cũng chứa hàm lượng cao các chất dinh dưỡng và chất chống oxy hóa. Một chén rau cải xoăn nấu chín, luộc, để ráo nước, không cho thêm muối chứa 1.062 mcg vitamin K và 9.620 IU vitamin A (đáp ứng gấp đôi nhu cầu lượng vitamin cần thiết mỗi ngày).

Ngoài ra, cải xoăn còn rất giàu vitamin C, mangan, chất xơ, đồng, canxi, kali, các chất dinh dưỡng từ thực vật như glucosinolate và flavonoid, lutein, zeanthin.



Xem chi tiết »

Thứ Ba, 3 tháng 2, 2015

Trồng rau không cần đất

0

Trồng rau không cần đất

Những cây xà lách mơn mởn to như bắp cải, những trái cà chua ửng hồng trĩu cành, dưa leo xanh tươi... treo lơ lửng trên cao mà không cần bám vào đất. Đó là kết quả của đề tài nghiên cứu "Sản xuất rau an toàn bằng công nghệ cao không cần đất" do Phó Giáo sư Tiến sĩ Hồ Hữu An, Bộ môn Hoa - Rau - Quả, Khoa Nông học, Trường Đại học Nông nghiệp I, cùng các cộng sự thực hiện. Với công nghệ này, nông dân có thể tăng canh tác từ 4 đến 11 vụ mỗi năm thay vì chỉ hai vụ như trước đây...

An toàn thực phẩm đang là mối lo chung hiện nay của xã hội, do trong quá trình sản xuất, nhiều nhà nông lạm dụng hóa chất hay thuốc bảo vệ thực vật. Rau sạch luôn được người tiêu dùng ưu tiên hàng đầu theo cách chọn rất cảm tính là... có sâu hoặc phải nhăn nheo, xấu xí. Nhiều hợp tác xã rau sạch ra đời nhưng chỉ đáp ứng được phần nào của nhu cầu người tiêu dùng. Trong bối cảnh đó, ý tưởng về một vườn rau sạch không cần đất của Phó Giáo sư Tiến sĩ Hồ Hữu An, Bộ môn Hoa- Rau- Quả, Khoa Nông học, Trường Đại học Nông nghiệp I, đã mở ra một hướng mới cho sản xuất rau.

Trăn trở về cọng rau, ngọn lúa cho nông dân Việt Nam, Phó Giáo sư Hồ􀀀 Hữu An và đồng nghiệp cũng từng nghiên cứu về một vườn rau sạch. Điều kiện thuận lợi hơn khi vào năm 1998, trong một chuyến công tác nước ngoài, Phó Giáo sư An được tiếp cận với công nghệ trồng rau thủy canh hiện đại. Từ đó, ông quyết tâm bằng mọi giá phải mang công nghệ này về nước.

Ông được chọn là người quản lý, thực hiện công nghệ này với một số loại rau trong nhà kính.

Về nước vào cuối năm 2000, hành trang của Phó Giáo sư Tiến sĩ Hồ Hữu An mang theo là một kho kiến thức mới, những quy trình công nghệ, thậm chí đã được Việt hóa để phù hợp với điều kiện trong nước. Phó Giáo sư An đã tiến hành rà soát lại tất cả các điều kiện về thiết bị, xem những gì có thể sáng tạo, tìm cách lắp ráp bằng những nguyên liệu trong nước, cái gì cần phải mua. Trong các thiết bị cần thiết để triển khai nghiên cứu thực hiện dự án ứng dụng công nghệ trồng rau thủy canh hiện đại, duy chỉ có máy tưới nước nhỏ giọt là chưa có mặt ở thị trường Việt Nam, có giá hàng ngàn USD. Ông phải trút hết tiền tiết kiệm để mua máy tưới nước nhỏ giọt mang về.

Năm 2002, đề tài "Sản xuất rau an toàn bằng công nghệ cao không cần đất" được Bộ Khoa học và Công nghệ xét, đồng ý công nhận là đề tài cấp Nhà nước. Đầu năm 2003, Phó Giáo sư Tiến sĩ Hồ Hữu An trúng thầu đề tài và tiến hành nghiên cứu trên bốn loại rau quả: cà chua, dưa leo, xà lách và súp-lơ. Hơn hai năm thử nghiệm, đề tài "Sản xuất rau an toàn bằng công nghệ cao không cần đất" được nghiệm thu vào cuối năm 2005. Ưu điểm của công nghệ này là trồng rau trên các giá thể có sẵn trong nước, không dùng đất nên không bị ô nhiễm các kim loại nặng, hóa chất bảo vệ thực vật, vi sinh vật có hại... Người trồng rau cũng không phải thanh trùng nền đất như ở ngoài đồng, tiết kiệm tối đa chi phí mua thuốc bảo vệ thực vật và công phun tưới, có khả năng tự điều chỉnh độ PH và EC chính xác. Cây được cung cấp đầy đủ các nguyên tố đa, vi lượng trong suốt quá trình sinh trưởng và phát triển nên các giống phát huy được tiềm năng về năng suất và chất lượng.

Rau được trồng trong nhà có mái che, được tưới bằng hệ thống nhỏ giọt tự động hoặc bán tự động, vừa đảm bảo độ đồng đều vừa tiết kiệm nước. Nhờ đó, các công việc nặng nhọc của người trồng rau được giải phóng. Công nghệ này còn cho phép ta tận dụng được những diện tích rất nhỏ, tưởng chừng như không có khả năng canh tác để canh tác, tạo ra được những sản phẩm có năng suất, chất lượng, an toàn và hiệu quả cao. Ngoài ra, với công nghệ này, người trồng rau còn có khả năng trồng ổn định quanh năm, cả trong điều kiện trái vụ, nâng điều kiện canh tác lên 4-11 vụ/năm.

Phó Giáo sư Tiến sĩ Hồ Hữu An cho biết: "Xét nghiệm của Bộ Khoa học và Công nghệ cho thấy trồng rau không cần đất đạt 100% tiêu chuẩn. Hàm lượng kim loại như: chì, asen, đồng, thủy ngân trong rau hầu hết chưa đến 10% tiêu chuẩn cho phép". Những cây xà lách, cà chua ửng hồng chín mơn mởn, dưa leo đặc ruột da nhẵn bóng... trở thành các lô sản phẩm đầu tiên bán thử tại các siêu thị với giá bán từ 7.000 đồng đến 8.000 đồng/kg nhưng số lượng đã không đủ đáp ứng nhu cầu.

Phó Giáo sư Tiến sĩ Hồ Hữu An đã mang công nghệ này đến giới thiệu tại Hội chợ Techmart Hải Phòng, Nghệ An, thành phố Hồ Chí Minh... và bước đầu thu được kết quả khả quan. Ý tưởng trồng rau không cần đất của ông được rất nhiều doanh nghiệp ký thỏa thuận chuyển giao công nghệ.

Với những ưu thế vượt trội như trên, trong một tương lai gần, công nghệ này sẽ trở nên phổ biến rộng rãi thay thế cho các kiểu canh tác truyền thống hiện nay.



Xem chi tiết »

Rau diếp giúp tĩnh tâm an thần

0

Rau diếp giúp tĩnh tâm an thần

Rau diếp

Rau diếp còn gọi rau xà lách, tên khoa học Latuca Sativa, có 4 loại: xà lách cuốn bắp tròn, xà lách cuốn bắp dài, rau diếp ta không cuốn, rau diếp xoăn.

Tuệ Tĩnh nhận định rau diếp (RD) vị đắng, tính hàn không độc. Công dụng điều hòa tiếp bổ, khai vị thanh tâm chữa các chứng ung độc, sưng tấy. Sách Bản thảo gọi RD là thiên hương thái (rau hương trời) chủ trị ác sang, lá đem giã chữa rắn cắn. Sách Bản thảo cứu hoang: Ăn sống tuy lạnh nhưng có ích, ăn lâu ngày nhẹ người dễ ngủ, điều hòa kinh mạch, lợi ngũ tạng (không ăn cùng với huyết, với mật gây độc). Trong các sách khác RD còn có nhiều tên: oa cự, rau thiên kim, thiên tầng bác, RD dùng thân và măng RD măng xanh vì chủ yếu ăn thân ngon như măng xanh. Dựa vào màu của thân chia ra măng trắng, măng xanh, măng đỏ tím...

Theo Đông y Trung Quốc thì RD vị đắng ngọt, hơi hàn. Công năng ích ngũ tạng, thông kinh mạch, cứng gân cốt, lợi tiểu tiện và làm trắng răng đẹp da. Dùng chữa tăng huyết áp viêm thận mạn, sữa không thông sau sinh nở... RD được dùng phòng chữa các chứng bệnh sau:

- Sữa không thông: RD 100g sắc lấy nước, cho vào ít rượu để uống.

- Tiểu tiện không thông hoặc đái ra máu: Lấy RD một nắm giã nhuyễn đắp lên rốn.

- Chữa bệnh ngoài da:

Chàm, mẩn ngứa: Lá tươi giã nhuyễn xoa đắp.

Chữa mụn nhọt sưng đau: Lấy RD giã nát, đắp vào chỗ bị nhọt, thay ngày 2-3 lần.

Trứng cá: Hằng ngày dùng nước RD rửa mặt. Lấy (RD luộc trong 2 lít nước cho sôi kỹ, đổ ra chậu để nguội rửa mặt). Chữa bỏng hoặc sưng tấy: Lấy một ít RD nấu với ít dầu vừng cho chín để nguội đắp lên chỗ sưng tấy, bỏng...

- Làm giảm nếp nhăn trên mặt: RD rửa sạch ráo nước nghiền nát nhuyễn đánh đều với lòng trắng trứng gà, để làm mặt nạ đắp mặt 20 phút rồi rửa sạch bằng nước sạch (trước khi đắp phải rửa mặt cho sạch). Mỗi tuần đắp mặt RD 2 lần.

- Chữa trĩ lở loét, đại tiện ra máu: Dùng một trong 3 bài thuốc sau:

+ RD rửa sạch, ngâm nước muối, ăn sống hằng ngày, có tác dụng nhuận tràng, chỉ huyết.

+ Nước ép RD và nước ép ngó sen mỗi loại 50ml, thêm một chút mật ong, uống ngày 2 lần, liên tục nhiều ngày cho đến khi khỏi.

+ Trị lở loét, có thể nhổ 2-3 cây RD, rửa sạch, sắc nước, ngâm và rửa chỗ bị bệnh có tác dụng sát khuẩn và giảm đau.

- Chữa âm hộ sưng đau: Hạt diếp 30g, giã dập, cho vào một bát nước, đun sôi trong 5 phút rồi uống khi còn nóng hoặc chế biến để ngâm như cách trên.

- Chữa béo phì đàm trệ: Thường xuyên ăn RD trộn giấm, gạo.

- Chữa tiểu đường: Ăn RD tươi hoặc RD tươi giã nhuyễn vắt lọc lấy nước hòa với chút rượu uống.

- Chữa viêm loét dạ dày: Uống nước ép RD. Ăn RD luộc, nấu canh.

- Chữa thấp khớp kể cả thống phong (gút): Hằng ngày uống dịch ép RD. Ngày đầu 1/2 thìa canh ngày hai 1 thìa, tăng mỗi ngày 1/2 thìa đến ngày thứ 10 thì giảm xuống mỗi ngày 1/2 thìa.

- Chống ôxy hóa, chống lão hóa, phòng chống các bệnh nan y, tim mạch: (Do chứa nhiều lutein và vitamin C). RD thay đổi cách chế biến ăn hằng ngày và phối hợp các liệu pháp khác.

- Sâu, kiến chui vào trong tai: Dùng RD rửa kỹ sạch giã vắt lấy nước nhỏ vào tai.

Phòng chữa bệnh bằng RD dưới dạng thức ăn 

Dùng sống, tái, xào, nấu canh, muối dưa (để cả cây) dùng RD đơn thuần hoặc phối hợp các thực phẩm khác do sáng tạo của nhà bếp. Ăn thân thì khoái khẩu nhưng giá trị dinh dưỡng và trị liệu thì kém so với ăn lá. Cho nên có các món để tận dụng cả thân và lá không bỏ phí. Người tỳ vị hư hàn không nên lạm dụng dạng tươi tính hàn. Nên dùng dạng tái hoặc nấu chín ấm hơn.

Chữa tăng huyết áp, tiểu đường

RD cọng trộn bánh đa (hoặc đậu phụ lá): RD 150g, bánh đa 250g, tỏi đập dập 10g, giấm 15g, dầu mè 10g, xì dầu 10g. RD lấy cọng tước vỏ luộc chín để nguội. Bánh đa cọng dài nhúng nước sôi.

Lá RD: RD lá 150g, lá tàu hũ ki 2 miếng, hành tây 15g, giấm 15g, dầu mè 5g, xì dầu 15g.

Còn có các món RD cọng nấu trần bì chữa ho. Canh RD cọng nấu canh với rong biển. RD trộn rau câu phòng chữa bướu cổ...

Món ăn bổ dưỡng toàn diện

Vào dịp Tết Nguyên đán người ta hay làm cuốn để ăn cho “mát ruột” chống rượu bia nung nấu tâm can. Cuốn bên trong có bún, ngoài bọc bằng lá RD (xanh), 1 miếng thịt lợn ba chỉ (trắng), 1 miếng trứng đã rán (vàng), 1 con tôm lộc (đỏ), dùng lá tỏi xanh thẫm nhúng mềm để cuốn lại. Cuốn hấp dẫn bởi ngon mắt, ngon miệng.

Ăn RD thường xuyên có thể tăng cường bài tiết dịch vị và dịch tiêu hóa, tăng bài tiết mật, cải thiện công năng tiêu hóa của gan. Lượng kali cao 27 lần natri tạo thuận lợi cho tiểu tiện nên có ích cho trường hợp tăng huyết áp, bệnh tim mạch, bệnh gan thận có phù nề, cổ trướng. Sản phụ ăn RD sẽ thông sữa, tăng tiết sữa. Cành lá chứa chất lactucin có vị đắng với tác dụng an thần gây ngủ, giảm đau.

Đang mùa thu đông trời hanh khô làm bộ máy hô hấp bị ảnh hưởng gây ho nên ăn RD thường xuyên sẽ có tác dụng phòng chữa bệnh.



Xem chi tiết »

Thứ Hai, 2 tháng 2, 2015

Chế biến rau đúng cách

0

Chế biến rau đúng cách

Chế biến rau đúng cách

Ăn nhiều rau xanh hàng ngày rất tốt cho sức khoẻ. Tuy nhiên bạn đã biết cách chế biến nó đúng cách để đảm bảo lượng vitamin có trong rau không bị mất đi? Hãy lắng nghe những lời khuyên dưới đây của các chuyên gia dinh dưỡng.

1. Vì sao nên nên thận trọng khi chế biến rau?

Vì sao nên nên thận trọng khi chế biến rau

Rau xanh cũng như hoa quả, cung cấp cho cơ thể chúng ta một lượng vi chất quan trọng, giúp cân bằng chế độ ăn hàng ngày. Những chất đó là: các loại vitamin, khoáng và chất xơ. Mỗi vi chất kể trên đều có chức năng riêng và chức năng tổng hợp.

Do đó, khi trong cơ thể chúng ta thiếu một vitamin nào đó, sự cân bằng sẽ bị phá vỡ. Ví dụ, vitamin C, nó đồng thời tham gia vào quá trình chống ôxi hoá, chống viêm nhiễm và chống dị ứng. Nó đào thải chất độc bên trong cơ thể ra ngoài và cho phép cơ thể chúng ta hấp thụ sắt tốt hơn… Vậy, trong khi chế biến chúng, điều quan trọng là không để làm mất đi những dưỡng chất quý báu này.

2. Chế biến thế nào là đúng cách?

Chế biến thế nào là đúng cách

Để những vi chất quý báu trong rau không mất đi khi ta chế biến, bạn nên nhớ những điều nên và không nên làm dưới đây:

- Tránh tích trữ rau nhiều ngày và ngâm quá lâu trước khi chế biến. 

Việc để rau nhiều ngày rồi mới sử dụng cũng làm hao tổn lượng vitamin có trong rau. Tích trữ rau có thể làm mất tới 50% lượng vitamin C. Ví dụ khoai tây sau 3 tháng “tồn kho”, lượng vitamin giảm quá nửa. Ngay cả khi bạn để rau trong tủ lạnh vài ngày, bạn đã vô tình làm lượng vitamin giảm đi đáng kể. Các chuyên gia khuyên chúng ta hãy ăn rau tươi trong vòng từ 24 - 48 giờ đồng hồ sau khi mua về.

Còn nếu bạn ngâm rau quá lâu trong nước trước khi chế biến, bạn cũng làm mất đi vitamin C và B. Những chất này rất dễ hoà tan trong nước. Hãy dùng rau sạch và rửa sạch rau dưới vòi nước để tránh làm mất đi các lại vitamin.

- Nên làm chín rau bằng hơi.

Đun chín rau ở nhiệt độ cao và đun lâu sẽ làm mất đi lượng vitamin có trong rau. Các làm chín rau tốt nhất là bạn hãy hấp rau thật nhanh, cách này sẽ giúp bạn bảo vệ được những dưỡng chất của rau và cũng là cách tốt nhất giữ mùi vị của rau.

3. Một vài lưu ý nhỏ khi chế biến

- Sử dụng nước rau để làm nước xốt, nước xốt dầu giấm… Chúng chứa rất nhiều vitamin và khoáng chất hoà tan.

- Khi luộc khoai tây, bạn nên giữ cả vỏ như vây lượng vitamin mất đi sẽ ít hơn.

- Khi nấu chín rau, bạn nên cho rau vào nước đang đun sôi. Nhiệt độ cao sẽ cho phép tạo một lớp đường trên bề mặt nước, lớp đường này bảo vệ vitamin không bị mất đi do bay hơi nước.

- Không nên nấu rau quá nhừ. Rau được ăn khi vẫn còn hơi dai, như vậy là bạn đã bảo vệ được đáng kể lượng vitamin của rau.



Xem chi tiết »

Chế biến & bảo quản rau

0

Chế biến & bảo quản rau


Quy trình công nghệ sấy rau quả nói chung bao gồm các công đoạn sau:

1. Chần (hấp).

Trước khi sấy thường chần rau quả trong nước nóng hoặc hấp bằng hơi nước nhằm bảo vệ phẩm chất sản phẩm và rút ngắn thời gian sấy. Khi chần, do tác dụng của nhiệt và ẩm nên tính chất hoá lý của nguyên liệu bị biến đổi có lợi cho sự thoát ẩm khi sấy: các vi sinh vật bị tiêu diệt và hệ thống men (enzim) trong nguyên liệu bị đình chỉ hoạt động (vô hoạt hoá) tránh gây hư hỏng sản phẩm.

Trong rau quả có nhiều loại men, loại men bền nhiệt nhất là loại men Peroxidaza. Vô hoạt ( làm đình chỉ hoạt động) được men này thì vô hoạt được các men khác. Để vô hoạt được men Peroxidaza cần gia nhiệt rau quả ở nhiệt độ trên 75 độ C.

Đối với rau quả giàu gluxit (khoai tây…): chần làm cho rau quả tăng độ xốp, do sự thuỷ phân các chất pectin làm cho liên kết giữa các màng tế bào bị phá vỡ. Tinh bột bị hồ hoá khi chần cũng làm tăng nhanh quá trình sấy. 

Đối với rau quả có chứa sắc tố (cà rốt, đậu hoà lan, mận…), chần có tác dụng giữ màu, hạn chế được hiện tượng biến màu hoặc bạc màu.

Đối với rau quả có lớp sáp mỏng trên bề mặt (mận, vải…), chần làm mất lớp sáp này, tạo ra các vết nức nhỏ li ti trên bề mặt, do đó gia tăng quá trình trao đổi ẩm giữa quả với môi trường xung quanh, dẫn đến rút ngắn thời gian sấy.

2. Xử lý hoá chất.

Để ngăn ngừa quă trình ôxy hoá trong quá trình sấy, người ta thường sử dụng các chất chống ôxy hoá như Axit sunfurơ, axit ascobic, axit xiric và các muối natri của axit sunfurơ (như metabunsunfit, bisunfit, sunfit…).

Axit xitric có tác dụng kiềm hảm biến màu không do men. Axit sunfurơ và các muối natri của nó có tính khử mạnh, tác dụng với nhóm hoạt động của men oxy hoá và làm chậm các phản ứng sẩm màu có nguồn gốc men. Ngoài ra, chúng còn có tác dụng ngăn ngừa sự tạo thành melanoidin (chất gây hiện tượng sẩm màu) và ổn định vitamin C, làm cho vitamin C không bị tiêu hoá. Hàm lượng tối thiểu của SO2 để có khả năng chống oxi hoá là 0,02% (tính theo khối lượng).

3. Nhiệt độ sấy.

Rau quả là sản phẩm chịu nhiệt kém: trên 90 độ C thì đường fructoza bắt đầu bị caramen hoá, các phản ứng tạo ra melanoidinm, polime hoá các hợp chất cao phân tử xảy ra mạnh. Còn ở nhiệt độ cao hơn nữa, rau quả có thể bị cháy. Do vậy, để sấy rau quả thường dùng chế độ sấy ôn hoà. Tuỳ theo loại nguyên liệu, nhiệt độ sấy không quá 80 - 90 độ C. 

Đối với rau quả không chần, để diệt men thì khi sấy ban đầu có thể đưa lên 100 độ C, sau một vài giờ hạ xuống nhiệt độ thích hợp.

Quá trình sấy còn phụ thuộc vào tốc độ tăng nhiệt của vật liệu sấy. Nếu tốc độ tăng nhiệt quá nhanh thì bề mặt mặt quả bị rắn lại và ngăn quá trình thoát ẩm. Ngược lại, nếu tốc độ tăng chậm thì cường độ thoát ẩm yếu.

4. Độ ẩm không khí.

Muốn nâng cao khả năng hút ẩm của không khí thì phải giảm độ ẩm tương đối của nó xuống. Sấy chính là biện pháp tăng khả năng hút ẩm của không khí bằng cách tăng nhiệt độ. 

Thông thường khi vào lò sấy, không khí có độ ẩm 10 - 13%. Nếu độ ẩm của không khí quá thấp sẽ làm rau quả nức hoặc tạo ra lớp vỏ khô trên bề mặt, làm ảnh hưởng xấu đến quá trình thoát hơi ẩm tiếp theo. Nhưng nếu độ ẩm quá cao sẽ làm tốc độ sấy giảm.

Khi ra khỏi lò sấy, không khí mang theo hơi ẩm của rau quả tươi nên độ ẩm tăng lên (thông thường khoản 40 - 60%). Nếu không khí đi ra có độ ẩm quá thấp thì sẽ tốn năng lượng; ngược lại, nếu quá cao sẽ dể bị đọng sương, làm hư hỏng sản phẩm sấy. Người ta điều chỉnh độ ẩm của không khí ra bằng cách điều chỉnh tốc độ lưu thông của nó và lượng rau quả tươi chứa trong lò sấy.

5. Lưu thông của không khí.

Trong quá trình sấy, không khí có thể lưu thông tự nhiên hoặc cưỡng bức. Trong các lò sấy, không khí lưu thông tự nhiên với tốc độ nhỏ (nhỏ hơn 0,4m/s), do vậy thời gian sấy thường kéo dài, làm chất lượng sản phẩm sấy không cao. Để khắc phục nhược điểm này, người ta phải dùng quạt để thông gió cưỡng bức với tốc độ trong khoảng 0,4 - 4,0m/s trong các thiết bị sấy. Nếu tốc độ gió quá lớn (trên 4,0m/s) sẽ gây tổn thất nhiệt lượng.

6. Độ của lớp sấy.

Độ dày của lớp rau quả sấy cũng ảnh hưởng đến quá trình sấy. Lớp nguyên liệu càng mỏng thì quá trình sấy càng nhanh và đồng đều, nhưng nếu quá mỏng sẽ làm giảm năng suất của lò sấy. Ngược lại, nếu quá dày thì sẽ làm giảm sự lưu thông của không khí, dẩn đến sản phẩm bị "đổ mồ hôi" do hơi ẩm đọng lại. Thông thường nên xếp lớp hoa quả trên các khay sấy với khối lượng 5 - 8kg/m2 là phù hợp.

7. Đóng gói và bảo quản rau quả khô.

Sau khi sấy xong, cần tiến hành phân loại để loại bỏ những cá thể không đạt chất lượng (do cháy hoặc chưa đạt độ ẩm yêu cầu). Loại khô tốt được đổ chung vào khay hoắc chậu lớn để điều hoà độ ẩm. Sau đó quạt cho nguội hẳn rồi mới đóng gói để tránh hiện tượng đổ mồ hôi.

Tuỳ từng mặt hàng, thời gian bảo quản và đối tượng sử dụng mà có quy cách đóng gói khác nhau. Ngoài ra, điều kiện vận chuyển và bảo quản sản phẩm cũng có ý nghĩa quan trọng trong việc lựa chọn bao bì.

Dạng vật liệu thường dùng để bảo vệ rau quả khô là giấy cáctông và chất dẻo (PE, PVC, xenlophan…). Bao giấy và hộp cáctông có đặc tính nhẹ, rẻ, có thể tái sinh, nhưng thấm hơi thấm khí, không đều dưới tác dụng của nước và cơ học. Bao túi chất dẻo có đặc tính trong suốt, đàn hồi, dể dàng kín bằng nhiệt, chi phí thấp nhưng có một số bị thấm nước. Thấm khí (PE), chịu nhệt kém (PVC,PET).

Bao túi chất dẻo dùng để bảo quản hoa quả khô có thể chỉ gồm một màng chất dẻo hoặc kết hợp nhiều màng.

Ngoài ra, còn có thể bảo quản rau, quả khô trong chum, vại hay thùng kim loại đậy kín.

8. Phương pháp làm khô.

Phương pháp làm khô đơn giản nhất là phơi nắng, có ưu điểm là tận dụng được năng lượng mặt trời, tiết kiệm chất đốt; nhưng thời gian làm khô kéo dài, làm giảm nhiều vitamin C (đến 80%) và caroten (tiền sinh tố A), màu sắc sản phẩm kém, đòi hỏi nhiều diện tích sân phơi, khó giải quyết được khối lượng lớn và đặc biệt là phụ thuộc vào thời tiết.

Để chủ động việc làm khô phải sử dụng các thiết bị sấy. Sấy là quá trình tách nước trong sản phẩm bằng nhiệt. Đó là quá trình khuếch tán nước từ các lớp bên trong ra bề mặt sản phẩm và hơi nước từ bề mặt sản phẩm khuếch tán ra môi trường xung quanh. Các thiết bị sấy thông thường sử dụng khí nóng làm tác nhân sấy, bao gồm: các tủ sấy, lò sấy thủ công hoặc các máy sấy có bộ phận cấp nhiệt và quạt gió. Ngoài ra, còn có phương pháp sấy khác như sấy thăng hoa, sấy hồng ngoại…

Sấy thăng hoa là làm lạnh rau quả ở nhiệt độ khoảng -20 độ C, nước trong rau quả bị đóng băng thành nước đá ở thể rắn, sau đó làm cho nước từ thể rắn chuyển sang thể hơi và bay hơi khỏi vật liệu.

Sấy hồng ngoại là dùng tia bức xạ hồng ngoại (giải tầng hẹp) để cung cấp năng lượng cho các phần tử nước trong rau quả để thắng các lực liên kết, thoát ra khỏi sản phẩm.

Sấy thăng hoa và sấy hồng ngoại có ưu điểm là đảm bảo được màu sắc và hương vị tự nhiên của sản phẩm; ngoài ra, còn bảo toàn lượng vitamin C trong quá trình sấy rau quả. Tuy nhiên, do giá thành sản phẩm còn khá cao, đòi hỏi thiết bị hiện đại nên các phương pháp này ít được áp dụng rộng rải trong thực tiển sản xuất thường chỉ dùng để sấy các sản phẩm cao cấp).

Chú ý: Trên thực tế, tuỳ theo đặc tính của từng loại sản phẩm mà ta có thể bỏ bớt công đoạn chần hoặc xử lý hoá chất cũng có trường hợp bỏ cả hai công đoạn này.



Nguồn: sưu tầm

Xem chi tiết »

Chủ Nhật, 1 tháng 2, 2015

Nhà lưới - công cụ cho trồng rau trái vụ

0

Nhà lưới - công cụ cho trồng rau trái vụ


Không phải tại TP HCM, nơi đặt nhiều kỳ vọng cho việc đi đầu công nghiệp hóa ngành rau, mà ở các nơi khác xa hơn lại đang manh nha hình thành một kỹ nghệ sản xuất rau, bắt đầu chỉ là những thay đổi nho nhỏ của người nông dân dưới tác động của KHKT và sức hút của thị trường.

Phường Tân Phong, TP Biên Hòa (Đồng Nai) 2 năm nay có diện tích nhà lưới chuyên trồng rau tăng vọt. Bắt đầu là ông Nguyễn Vĩnh An, trú tại 93/81 44A, khu phố 8 trúng đến 10 triệu đồng cho 1000 m2 rau trồng trong nhà lưới vào thời điểm sau Tết ta năm 2000. Trước đó, năm 1999, ông An đi tham quan nhà lưới tại Đà Lạt và về nhà ông đã tự thiết kế nhà lưới đơn giản bằng cột tre, nhưng không may cho ông, một cơn lốc đã kéo sập đổ. Được sự động viên và giúp đỡ tận tình của cán bộ kỹ thuật khuyến nông, ông làm lại cái khác chắc chắn hơn, có cột bằng xi măng, khoảng cách giữa các cột được điều chỉnh phù hợp hơn nên đã qua 3 năm mà nhà lưới vẫn dùng tốt, liên tục trúng mùa, trúng giá từ bấy đến nay.

Khởi nghiệp sau ông An, ông Vũ Đức Hùng, khu phố 7 đã rút kinh nghiệm và đầu tư luôn một nhà lưới rộng đến 2.400 m2, với tổng chi phí 23 triệu đồng và cũng trúng liên tục, thu hồi vốn sau 1 năm. Theo ông Hùng, nhà lưới hở có tác dụng chống được dập nát do mưa to gió lớn, năng suất tăng hơn từ 20- 30% so với phương pháp che rau theo từng luống cố định mà nông dân vẫn hay làm. Hiện tượng xói mòn đất giảm đi rõ rệt, đặc biệt là đất, cát không văng lên lá rau khi mưa to. Vì vậy, rau trồng trong nhà lưới có chất lượng tốt, ít bị bệnh hơn trồng bên ngoài nhà lưới. Năng suất rau trong nhà lưới trong mùa mưa có thể đạt 2 tấn/ 1000 m2, hiệu quả kinh tế rất cao nhờ giá thường cao hơn mùa khô 1,5-2 lần.

Cũng như Biên Hòa, thị xã Tam Kỳ (Quảng Nam) có diện tích nhà lưới trồng rau tăng nhanh, từ con số 0 vào năm 2000, nay đã có tới 20.000 m2 nhà lưới, trong đó có 50% có hệ thống tưới phun mưa hiện đại. Quảng Ngãi mới chỉ có 7.000 m2, nhưng sẽ phát triển nhanh trong thời gian tới khi cụm công nghiệp Dung Quất, Chu Lai hoạt động, có nhu cầu lớn về rau an toàn.

Khác với 2 vùng đất mới trên, một số hộ trồng rau của H. Cần Giuộc (Long An) đã biết tự tạo nhà lưới cây tre đơn giản để trồng xà lách xoong từ năm 1992 và nay đã lan rộng ra, nhà lưới đã được đầu tư chắc chắn, cột bê tông, xà sắt và ngoài xà lách xoong, còn trồng nhiều loại rau ăn lá khác vào vụ nghịch. Đến nay, toàn huyện đã có 250 nhà lưới, với diện tích mỗi nhà từ 1.000 – 2.500 m2. Cần Giuộc đang dần trở thành vùng rau chuyên canh rộng lớn cung cấp cho TP HCM.

Theo thí nghiệm của Viện KHNNMN tại Biên Hòa, so sánh năng suất một số loại rau trồng trong nhà lưới và ngoài nhà lưới, năm 2003 tính cho 1000 m2/1 vụ như sau (số sau là năng suất ngoài nhà lưới): húng quế -2,29 T/1,38T; cải thìa – 1,82 T/1,09T; xà lách – 2,08 T/1,25 T. Đặc biệt một số rau trước đây không thể trồng vào mùa mưa như ngò rí, tần ô thì nay trồng mang lại hiệu quả cao, tần ô đạt 0,9 T/1000 m2/vụ và ngò rí đạt 0,67 T/1000 m2/vụ. Tương tự, các thí nghiệm của Chi cục BVTV Sóc Trăng cũng cho những kết quả tốt đẹp - cải bông:1,9/1,1 T, tần ô: 2,9/1,9 T, cải xanh: 3.5/3,1 T, cải rổ: 2,9/2,2 T, cải thảo: 1,2/1,0 T, cải ngọt: 1,8/1,4 T xà lách: 2,1/1,9T.

TS Ngô Quang Vinh, Trưởng phòng cây thực phẩm Viện KHNN miền Nam cho biết, ông đã giới thiệu một số mẫu nhà lưới, kể cả mẫu của nước ngoài để các địa phương và người trồng rau tự đánh giá và lựa chọn. Với bản chất thông minh, sáng tạo, nông dân chúng ta đã có những cải tiến đáng kể. Ví dụ như dùng dây thép kéo căng thay cho xà sắt nhờ đó chi phí đầu tư thấp hơn nhưng không kém phần chắc chắn...

Nhà lưới kín, hở

Hiện có 2 loại nhà lưới, loại kín có lưới ngăn hoàn toàn cả phía trên mái và xung quanh, loại hở – lưới không che kín hoàn toàn mà hở toàn phần hay bán phần xung quanh. Tùy theo mục đích và điều kiện cụ thể mà lựa chọn phù hợp. Về chi phí đầu tư, 1000 m2 nhà lưới hiện nay vào khoảng 7-8 triệu đồng, nếu thêm hệ thống tưới phun mưa vào khoảng 10-11 triệu đồng.

Theo khuyến cáo của TS Ngô Quang Vinh, việc lựa chọn nhà lưới kín hay hở tùy thuộc vào mục đích nào được ưu tiên: chọn nhà lưới kín khi ưu tiên là ngăn ngừa côn trùng. Chọn nhà lưới hở khi ưu tiên là hạn chế tác hại của mưa. Nếu muốn dung hòa 2 mục đích trên cần nghiên cứu mẫu nhà lưới hở một phần mái.

Trồng rau an toàn, được đầu tư tốt, nông dân có kinh nghiệm thì nên dùng nhà lưới kín. Trồng rau mùa mưa, rau thường, đầu tư vừa phải, nông dân chưa có kinh nghiệm nên dùng nhà lưới hở.

– Nhà lưới màu trắng thường nóng hơn nhà lưới màu đen, nhà lưới kín thường nóng hơn nhà lưới hở, nhưng có thể làm mát bằng việc tưới phun mưa (tự động).

– Nếu chưa có nghiên cứu xác định cây chịu bóng, tốt nhất không nên dùng lưới màu đen làm nhà, vì lưới màu đen sẽ làm giảm năng suất nhiều loại rau.

– Hiện nay có thể áp dụng mẫu nhà lưới dùng cột xi măng làm trụ và dùng dây thép thay cho xà sắt. Nhà cao khoảng 2,2 m, hở xung quanh cách mặt đất 0,7 m-0,8 m hoặc kín hoàn toàn.

– Các vùng nóng nhiều hoặc vừa nóng nhiều vừa có mùa đông lạnh nên nghiên cứu theo hướng: nếu kín hoàn toàn thì làm sao có thể cuộn phần lưới xung quanh lên khoảng 1m khi quá nóng hoặc khi mật số sâu trong nhà lưới quá cao. Nếu hở thì nên làm hở trên mái (kiểu mái nhà).

Theo kinh nghiệm làm nhà lưới của ông Vũ Đức Hùng, Biên Hòa, Đồng Nai: Nhà lưới kín có khả năng ngăn chặn được côn trùng, tuy nhiên vẫn không ngăn được bọ trĩ và một số loại khác. Nhiệt độ trong nhà lưới thường cao hơn bên ngoài từ 2 đến 30C, vì vậy cần phải lắp ráp thêm hệ thống tưới phun mưa thì mới có thể hạn chế nhiệt độ. Hoặc có thể thiết kế nhà lưới dễ dàng vén lưới bên hông lên khi cần thiết để không khí nóng được lưu thông mà làm giảm nhiệt độ. Trụ nên đúc toàn bộ bằng xi măng, hoặc trụ sắt chữ V có chân đúc xi măng. Trên đỉnh trụ nên chừa lỗ để xỏ dây hay bắt xà. Trụ nên được chôn sâu từ 0,6 – 1 m tùy theo vị trí, khoảng cách các trụ hàng cách hàng 6 m, trụ cách trụ 5 m.

Chiều cao của nhà lưới nên trong khoảng 2-3 m, càng cao thì càng thoáng và dễ thao tác trong sản xuất như cuốc đất, tưới...

Lưới để lợp mái có ô 2x2 mm, loại lưới này thoáng dễ trao đổi khí trong và ngoài nhà lưới, ngăn cản các loại bướm đẻ trứng trong vườn rau. Mặt khác loại lưới này bền hơn các loại lưới khác có thời gian sử dụng 2-3 năm. Lưới treo xung quanh nên chọn loại có ô lưới 1x1 mm.

Tùy theo khả năng về kinh tế mà có thể đầu tư nhà lưới từ 5-10 triệu cho 1.000 m2. Tuy nhiên với trụ xi măng, dây kẽm và lưới thì chi phí khoảng 6-7 triệu đồng là có thể hoàn chỉnh (chưa có dàn tưới).


Xem chi tiết »

Trồng rau muống nước sạch

0

Trồng rau muống nước sạch

Trồng rau muống nước sạch

Trồng rau muống nước chi phí thấp, dễ chăm sóc. Rau ăn giòn, ngọt và đậm hơn rau muống cạn, rau muống nước được người tiêu dùng ưa chuộng và tiêu thụ mạnh ở thị trường nội địa.

Thời vụ:

Rau muống nước được cấy ra ruộng từ tháng 3-8.

Thu hoạch từ tháng 4-11 hàng năm.

Chuẩn bị giống

Căn cứ vào màu sắc của thân, chia làm 2 loại: giống rau thân trắng (xanh) và giống thân đỏ.

Dựa vào kích thước lá chia làm 3 loại rau muống: Rau muống lá to, lá vừa và lá nhỏ.

Giống được lấy từ các ruộng trồng của năm trước đến tháng 3 năm sau, khi rau nảy mầm, tưới thúc nước phân hoai mục kết hợp với phân đạm và tro bếp để lấy giống đưa ra ruộng cấy (tiêu chuẩn mầm giống cỡ 25-30 cm).

Lượng giống cần từ 650-750 kg/ha. Chỉ hái các cành tẻ, không hái các cành quá non.

Làm đất

Chọn đất thịt nhẹ, cát pha có độ pH: 5,5-6,5, chủ động nước, cách ly khu vực có chất thải công nghiệp từ 1-2 km, với chất thải thành phố ít nhất 200 m, cách xa đường quốc lộ ít nhất 100 m, không tồn dư hóa chất độc hại, dư lượng kim loại nặng rất nhỏ.

Đất trồng phải được làm kỹ, san phẳng ruộng, làm sạch cỏ. Trước khi trồng cần bón phân lót.

Mật độ, khoảng cách

Nên cấy theo hàng, khoảng cách giữa các hàng là 15 cm để tiện chăm sóc và thu hái.

Thu hái, để giống

- Sau cấy 20-25 ngày hái lứa đầu.

- Khi hái để lại 2-3 đốt thân trên mặt nước (hái sát gốc cây bị ngập sẽ không mọc lại).

- Sau khi hái, tùy thuộc điều kiện chăm sóc, nhiệt độ và lượng nước điều chỉnh trong ruộng thời gian thu hái từ 18-25 ngày/lứa.

- Để chuẩn bị giống cho năm sau, từ cuối tháng 9, chọn chân đất thấp ruộng tốt, cày bừa đất kỹ và cấy lại, lúc này cần cấy dày 45-50 bụi/m2.

Bón phân

Lượng phân bón như sau: Phân chuồng hoai mục 15-20 tạ/ha, phân đạm urê: 330 kg/ha, phân lân supe: 420-550 kg/ha, phân kali sulfat: 80-90 kg/ha.

Không thể dùng phân chuồng tươi, phân tươi để bón, có thể dùng phân hữu cơ sinh học, hoặc phân rác chế biến thay thế phân chuồng với lượng bằng 1/3 lượng phân chuồng.

Cách bón:

Bón lót bằng toàn bộ phân chuồng + lân + 2 kg urê + 1 kg

Bón thúc: lượng phân còn lại được bón thúc làm nhiều lần, mỗi lần 1,5 kg urê, 0,2-0,4 kg kali sulfat cho một công sau mỗi đợt thu hái.

Rau muống ít gặp bệnh hại mà thường gặp nhiều loài sâu hại như sâu khoang, sâu ba ba, bọ đầu đỏ tập trung phá hại nặng từ tháng 3.




Nguồn: sưu tầm

Xem chi tiết »